top of page

Danh Tướng Triều Trần - đôi dòng cảm

16 thg 1
14 phút đọc

Trong mấy ngàn năm nay, dưới bóng nhật nguyệt đã diễn ra xiết bao biến đổi khôn lường, nơi chim kêu vượn hú gọi nhau về tổ, nơi gò hoang máu đổ thịt rơi vì những cuộc giao tranh thảm khốc. Can qua nổi dậy tự trong tâm dục đã đành, phương chi tới việc di dưỡng dục vọng bành trướng khắp bốn bể năm châu, mang đao kiếm phù khí diệt vong “làm cỏ” địa cầu.


Ảnh: Danh Tướng Triều Trần - Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai
Ảnh: Danh Tướng Triều Trần - Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

Bước sang đầu thế kỷ XIII sau đức Giê-su giáng thế, đế chế Đại hãn Thiết Mộc Chân với danh hiệu Thành Cát Tư Hãn (Cinggis-khan, 1206 – 1227) lãnh đạo nhà nước phong kiến quân sự tập quyền Mông Cổ khởi đầu cuộc chinh phạt địa cầu, tạo cơn địa chấn khủng hoảng chính trị trên toàn thế giới thuở đương thời. Đến trước khi tiến hành cuộc xâm lược Đại Việt năm 1258, quân đội Mông Thát đã trải rộng từ bờ Đông biển Thái Bình Dương cho đến bờ Tây biển Hắc Hải và đang tập trung nhân lực triệt diệt nhà Nam Tống. Từ năm 1279, xuất phát từ trung tâm Mông Cổ, Đại hãn mở mang lãnh thổ rộng hơn 24 triệu km2, kể cả các nước như Syria, Irac, Azerbaijan, Hungari, Turkmenistan và đặc biệt hai quốc gia rộng lớn nhất thế giới như Nga và Trung Quốc cũng bị thuần phục bởi vó ngựa Mông Nguyên. Vậy mà một quân đội nhà nghề thiện chiến chấn động đại địa ấy, khi đặt chân tới Đại Việt lại chẳng có gì hơn ngoài một thất bại ê chề, sỉ nhục và ô danh.


Ba lần chiến thắng Mông Nguyên của vua quan và quân dân nhà Trần đã để lại niềm kiêu hãnh muôn đời cho dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay. Ngay chiến thắng lần thứ nhất vào năm 1258 đã bẻ gãy gọng kìm dùng Đại Việt làm bàn đạp tấn công nhà Nam Tống, thậm chí Đại Việt còn là nơi án ngữ đường tiến thủ của Đại hãn tiến đánh Chiêm Thành phía Nam và các vương thổ lân bang.


Vào thời nhà Trần, chúng ta không phải đối đầu với một tiểu quốc du mục xa xôi ở phương Bắc, mà kỳ thực lúc ấy Mông Cổ đã vươn mình trở thành “đế quốc thế giới”, họ đã trưởng thành nhiều mặt cùng cuộc cách mạng mở mang cương vực. Ngay khi cháu nội Thành Cát Tư Hãn lên ngôi, tức là Hốt Tất Liệt, người Hán đã không còn nhìn vị hoàng đế này bằng ánh mắt khinh khi, tướng rợ. Vì ông đã hấp thụ nho phong, rành rọt chữ Hán và biết trọng dụng người tài. Xung quanh tả hữu Hốt Tất Liệt trải khắp các lĩnh vực từ văn học, kinh tế, chính trị, văn hóa, thiên văn, địa lý, y thuật, thơ phú, võ công, quân sự đều là những học giả uyên bác khắp hoàn cầu. Ngự Y thân cận của ông là một người Ý, đại tướng người Syria, tướng quân cao cấp như Lý Hằng, Lý Quán, A Lý Hải Nha… đều không kể sắc tộc, tôn giáo, bất luận trước đây là người nước nào hễ tài giỏi đều được trọng dụng. Ngay cả “khi biết rằng người Ba Tư đã có nhiều khám phá khoa học đáng kể, ông đã mời nhà thiên văn học Jamal al-Din đến Trung Quốc để giới thiệu những đổi mới này” (Learning that the Persians had made sufficient scientific discover- ies, he invited the astronomer Jamal al-Din to China to expound these innovations)[1]. Ông còn dùng một người Ý, dân thành Venezia tên là Marco Polo đi suốt Á Châu để xem xét các vấn đề địa hình, địa vật, nhân chủng và kinh tế.


Dù sở hữu tài trí kiệt xuất nhưng lại thiếu vắng nhân đức và lòng từ bi, Đại hãn Hốt Tất Liệt chỉ chăm chăm vào việc nuôi dưỡng tham vọng bá quyền. Quyết tâm thâu tóm Đại Việt, ông liên tục tung ra những đợt tiến công mạnh mẽ, huy động nhiều tướng lĩnh hàng đầu với kinh nghiệm chiến trường dày dạn. Trong số đó, Ngột Lương Hợp Thai, chiến binh bất bại từng tham chiến đánh Nữ Chân ở Liêu Đông và dẫn quân tây chinh đánh Đức và Ba Lan. A Lý Hải Nha, viên tướng cao cấp nhất của quân đội Mông Nguyên sau nhiều cuộc thảo phạt đã góp phần giúp Đại hãn làm chủ miền nam Trung Hoa. Danh tướng Lý Hằng, với kinh nghiệm trận mạc phong phú từ Phàn Thành đến Tương Dương, đặc biệt đánh bại thừa tướng Văn Thiên Tường của Nam Tống năm 1279. Không dừng ở các vị đại tướng đó, Hốt Tất Liệt còn đặc cử hoàng tử Thoát Hoan, hai lần dẫn đầu mấy chục vạn binh viễn chinh, quyết tâm thảo phạt Đại Việt, khẳng định tham vọng bá chủ của mình trên khắp các chiến trường.


Ảnh: Nhà văn Phùng Văn Khai (bên phải) và Trúc Lan Thiện Trí (bên trái)
Ảnh: Nhà văn Phùng Văn Khai (bên phải) và Trúc Lan Thiện Trí (bên trái)

Trong lúc ánh sáng chân lý của mặt trời bị át đi bởi ngọn hoả dục trong lòng kẻ ác tà đang bùng cháy dữ dội, giờ là lúc thiên chân dân tộc tự mình đứng lên chống lại đế quốc Mông Nguyên gìn giữ bờ cõi quốc gia. Vua quan và nhân dân Đại Việt đã tự mình thắp lên ngọn đuốc của hào khí Đông A. Dẫn đầu bởi ba vị vua đầu triều và các danh tướng đương thời như Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải, Bảo Văn hầu Lê Tần, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.


Dáng vóc dõng mãnh của các danh tướng kể trên sẽ lần lượt xuất hiện trong tập khảo cứu Danh Tướng Triều Trần như một lời tri ân của tác giả và các nhà nghiên cứu gởi gắm đến thế hệ tiền nhân và những người có lòng tha thiết với lịch sử non nước Việt Nam.


Bạch Đằng giang mấy ngàn năm trôi chảy mãi, bến Chương Dương ba phen nghinh chiến đại quân vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt. Có lẽ nào người đời sau không nhớ đến công tích của tiền nhân, mà lại để án mây mù quá khứ che khuất vầng quang thiên sử. Đau đáo nỗi ưu hoài đó, tác giả tập sách đã vận dụng thiên đức văn chương và trí óc xảo biện vẽ lại chân dung các danh tướng đương thời bằng nhiều lối khác nhau như phép tổng hợp, phân tích sử liệu học, đàm thoại với các nhà nghiên cứu, tổ chức điền dã để được gần gũi hơn với cảnh vật non sông, bờ xôi ruộng mật của quê hương đất nước. Tựa vào thế núi sức sông mà nương lực hồi sinh dáng vóc những danh tướng hào hùng thuở Đông A vệ quốc, về gần hơn với đời sống hiện tại.


Gần gũi hơn để làm gì? Thưa, gần gũi hơn để tự hào, để biết rõ tông ti cội rễ, để hiểu rõ đời sống mảnh đất máu xương mình đang sinh sống, để nhận thức được giá trị nơi mình, để không bị những hình thức trí trá mê tín dị đoan thâu tóm thần trí. Trong đời vệ quốc các danh tướng kể trên, không một ai dùng nén hương trần phó thác cho trời mà buông lơi rèn luyện. Họ thuần là những con người say mê học tập mà trở nên am tường văn chương, võ lực. Do vậy, khi biên khảo quyển sách này, tác giả không xa rời với bóng dáng lịch sử nhân vật, giữa công trạng và sở đoản đều được minh biện sắc sảo. Bởi ở đời nhân vô thập toàn, làm sao tránh khỏi thị dục mờ ảo ngáng bóng trí tâm.


Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, nếu người đời chỉ đăm đăm soi xét ông về tội “di hoa tiếp mộc”, đảo lộn nhân luân phong hóa, đưa người họ Trần thay ghế quân vương mà không đoái hoài tới công lao an dân trị quốc thì quả thật thiếu sót vô cùng. Vào thuở sơ triều, nhà Trần vừa nối ngôi nữ đế Lý Chiêu Hoàng cũng là lúc nhiều cuộc phiến loạn xảy ra khắp nơi, sức ngôi Lý nghiệp không đủ dày để chống đỡ sơn hà. Ngẫm thử xem, nếu không có cuộc chuyển giao quyền lực này, nhà Lý sẽ dựa vào đâu để giữ vững cương thổ quốc gia dưới sức bành trướng khổng lồ của đội quân Mông Thát? Lại thêm, Thái sư Trần Thủ Độ tiến cử Trần Quốc Tuấn cho quan gia nhà Trần thống quản binh quyền ngay khi hai dòng trưởng thứ vốn có mối hiềm khích, bất hoà. Quả thật, đôi mắt nhìn người của Thái sư không kém phần Thuỷ Kính tiên sinh tiến cử Gia Cát Lượng cho Lưu Bị, chỉ khác khi một bên Ngoạ Long hiện ra qua trang văn của nhà tiểu thuyết thiên tài La Quán Trung, còn về phía Hưng Đạo vương là một danh tướng oai dũng bước ra từ trang sử hào hùng của Đại Việt.


Thừa lệnh phò vua trợ nước, Trần Quốc Tuấn không màn mối tư thù dòng họ mà phục tòng sự nghiệp quốc gia. Giữa lúc muôn dân ngơ ngác trước thế trận vó ngựa viễn chinh của quân đội nhà nghề thiện chiến Mông Nguyên, ông đã truyền hùng khí núi sông của dân tộc Việt Nam vào nguồn sinh lực ba quân qua lời Dụ Chư Tì Tướng Hịch Văn (Hịch Tướng Sĩ). Con người sắt đá ấy chưa một lần thoái chí trước quân thù, vậy mà ông đã hạ mình tắm cho thượng tướng Trần Quang Khải để rửa sạch mối hiềm khích hai dòng trưởng thứ. Ông đã vượt lên dục vọng cá nhân mà đưa dòng họ thoát cảnh “bì oa chử nhục”, anh em tương tàn.


Sau ba lần chiến thắng vang dội của vua tôi nhà Trần trong đợt bành trướng cuồng phong của đế chế Mông Nguyên, ta sẽ thấy triết lý siêu việt nằm ẩn mình trong những cuộc tương tàn gây nên là bởi dục vọng. Mông Cổ quyết tâm giành đất, xâm phạm bờ cõi nhiều quốc gia trên thế giới nhưng họ không nghĩ đến việc giáo hóa, không nghĩ đến phương kế sinh nhai no ấm cho đời sống nhân dân. Lãnh thổ mới chỉ là điều kiện cần chớ nó chưa quyết định sự tồn vong của một dân tộc, lãnh thổ không phải một vật chất thần quyền bí hiểm, nó chỉ tượng trưng cho một triết lý cao siêu thâm diệu hơn đó chính là tinh thần đoàn kếttấm lòng yêu mến nòi giống của nhân dân. Chính vì thấu hiểu và vận dụng tốt triết lý đó mà vua tôi, quan dân nhà Trần mới có được chiến công hiển hách như vậy.


Thoạt kỳ thuỷ, những điều nói trên chỉ như chiếc lá xuân vừa hé dưới thân cây xum xuê lộc vàng của một triều đại huy hoàng bậc nhất chế độ phong kiến Việt Nam thuở đương thời. Thành công vang dội ấy là kết quả hoà quyện của nhiều chính sách trị quốc an dân, ngay cả văn chương, võ bị đều được chỉnh đốn hết sức nghiêm cẩn. Đặc biệt trong gần 30 năm hoà bình giữa hai đợt giao tranh lần thứ nhất và thứ hai, vua quan nhà Trần nhanh chóng xây dựng nền văn minh Đại Việt vững chắc, tạo tiền đề cho hào khí Đông A ngày một hưng thịnh.


Ngay khi thành lập năm 1226, dưới triều Thái Tông Hoàng đế đã cho “biên soạn Quốc triều thống chế, sửa đổi hình luật lễ nghi” (春 三 月 考 前 代 諸 例 定 為 國 朝 通 制 反 改 刑 律 禮 儀 凣 Xuân tam nguyệt, khảo tiền đại chư lệ định vi Quốc triều thông chế, phản cải hình luật lễ nghi)[2]. Vương triều này cũng đã thấy được bài học “loạn tam vương” hồi vua Lý Phật Mã lên ngôi, nhanh chóng thiết lập chế độ Thượng hoàng để bảo đảm tính liên tục và ổn định trong triều thất. Nhiều quyết sách vô tiền khoáng hậu đưa ra nhằm chiêu mộ lòng dân, từ hội nghị Bình Than đến hội nghị Diên Hồng đều nhất nhất nguyên tắc “dĩ dân vi bản”, lấy dân làm gốc, người dân được tham gia dự bàn vấn đề vận mệnh đất nước.


Tránh phí phạm máu thịt quốc gia, gây phương hại cho tính mạng binh sĩ trong nước mà vẫn xây dựng thanh thế quân đội hùng mạnh, vua quan nhà Trần liên tục thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, vừa đảm bảo nhân lực sản xuất nông nghiệp, vừa kịp thời điều động nhân quần làm binh sĩ mỗi khi đất nước gặp cảnh giao tranh. Đó là sự kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, “lúc vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiểu sổ gọi ra hết”, “bách tính đều là lính (bách tính giai binh)”[3], “khi có việc chinh chiến, thì hết thảy mọi người dân đều là quân lính (tận dân vi binh)”[4]. Hay như binh pháp “dĩ đoản chế trường” được vua quan nhà Trần ứng biến linh hoạt trước cơn sóng dữ của đội quân Mông Thát, nay đã trở thành binh pháp đặc trưng trong lĩnh vực quốc phòng Việt Nam thời hiện đại.


Mưu cầu sự sáng suốt trong trí tuệ thông qua việc học, nhà Trần coi trọng nhân tài, thúc đẩy đào tạo trí thức nho học, mở mang Quốc học viện, tổ chức thi Thái học sinh, đặt danh hiệu tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Ngoài việc rèn luyện trí lực, vua Trần cho mở Giảng Võ đường nhằm đào tạo lý luận quân sự, xây dựng nền tảng tư tưởng bảo vệ Tổ Quốc. Dù chú trọng việc học thông qua trường lớp, nhưng khi bàn luận về việc tuyển chọn người tài trong thời kỳ này nhà bác học Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí nhận xét “Chỉ có tài là được cất đặt, không câu nệ về tư cách. Cho nên bấy giờ đức tốt tài cao đều được dùng”[5]. Các nhân cách lớn như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Đại Hành, Cao Man, Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Chế Nghĩa, Hà Đặc, Hà Chương thuần là những anh hùng dân tộc đều được quan gia và thánh tướng Hưng Đạo vương cất nhắc trọng dụng, không qua thi cử, trường lớp. Đó chẳng phải phép dĩ bất biến ứng vạn biến, không để chảy máu chất xám, rơi rụng người hiền trong việc tuyển chọn nhân tài hay sao.


Nhuệ khí Đại Việt quả thật đã thấu triệt mọi tinh hoa kim cổ, đưa dân tộc đứng trên đỉnh cao nhân loại lúc bấy giờ. Còn về phía Mông Thát, chúng ta cũng phải thật sự nhìn nhận Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt là một yếu nhân lịch sử, là người có tầm nhìn sâu rộng chớ không phải giống man di mọi rợ, võ biền kém hiểu. Đế chế Mông Nguyên thất bại trước binh quân nhà Trần, không phải vì thanh thế hèn kém mà do chính nghĩa không đủ lớn mạnh để thuần phục nhân dân. Tuy họ chiếm được đất đai lãnh thổ nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng cánh quân ấy vẫn là dụng cụ, là nạn nhân của một chính sách bành trướng phi chính nghĩa. Cộng đồng Mông Thát dù hùng mạnh nhưng lại manh múng, ô hợp bất thường do những cuộc chinh phạt binh đao hiệp thành nên không thể trở thành dân tộc thống nhất. Tổ chức đế quốc Mông Nguyên chỉ như sợi chỉ căng cứng hai đầu, chờ thất bại của một vài tướng lĩnh sẽ lập tức đứt vỡ, tan rã.

Ảnh: Danh Tướng Triều Trần - Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai
Ảnh: Danh Tướng Triều Trần - Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

Từ bao đời nay, con dân Đại Việt tự trong tâm khảm luôn cảm biết mọi diễn biến quốc gia. Họ biết phân biệt phải trái đúng sai, biết chọn quốc chủ đức tài hoà mục để nương theo lý tưởng mà bảo vệ bờ cõi, cũng như bảo vệ miếng cơm manh áo cho đời sống chính mình được sung túc, phú cường. Nếu xưa kia ba vị vua Trần khất phục dưới cung tiễn đại hãn, nhút nhát lùi bước trước kẻ thù thì sau này đến lượt Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương nhiếp thống giang sơn Trung Hoa sẽ lấy đó làm căn nguyên mà cho rằng Đại Việt đã từng là một tỉnh lỵ xa xôi của nhà Minh. Chúng ta sẽ mãi mãi rơi vào vòng luẩn quẩn, kéo dài thêm nữa hai chữ “Bắc thuộc”.


Sau cuộc chiến, núi sông biến sắc, quạ hú chim kêu bên xác người trải khắp non sông “Đằng giang tự cổ huyết do hồng”. Tông miếu điêu tàn, “trước đó quân Nguyên đã khai quật Chiêu Lăng muốn phá đi, nhưng không phạm được tới quan tài”  (𥘉 元 人 嘗 𭛁 昭 陵 欲 之 而 梓 宫 不 犯. Sơ, Nguyên nhân thường phát Chiêu Lăng, dục hoại chi nhi tử cung, bất phạm)[6]. Thành quách bề thế từ đời Thái Tổ nhà Lý gầy dựng đã hóa bụi hồng về với đất mẹ, “Thượng hoàng về kinh ngự ở hành lang Thị Vệ, vì cung điện bấy giờ đã bị giặc đốt hết” (上 皇 御 侍 衛 廊 宫 殿 時 為 賊 所 焚 故 也. Thượng hoàng ngự Thị vệ lang, cung điện thời vi tặc sở phàn cố dã)[7]. Những cuộc xâm lăng đã trở thành vết thương sâu hoắm vào đất và lòng người Đại Việt, vì vậy trong nhiều chuyến đệ trình quốc thư giao hảo giữa hai nước Đại Việt - Mông Nguyên, vua Trần luôn hướng đến tinh thần hoà bình, tránh nạn đao binh.


Cuộc chiến trường kỳ chống đế quốc Mông Nguyên xâm lược bờ cõi là cả một chứng tích hào hùng của quá khứ, quá khứ ấy cần được kế tục và phổ truyền đời đời trong huyết quản mỗi người con đất Việt. Nếu không tưởng nhớ và xiển dương lịch sử nước nhà thì sự nghiệp mấy ngàn năm của dân tộc sẽ như khói băng tan rã, thiên sử hóa phù vân. Đau đáu nỗi ưu hoài đó, nhà văn Phùng Văn Khai đã biên soạn tập khảo cứu Danh Tướng Triều Trần với nguyện ước mang lịch sử dân tộc gần gũi hơn với hiện tại, để tiếp tục khám phá những ẩn khuất bấy lâu trong cuộc đời và sự nghiệp các danh tướng đầu triều. Cùng với tinh thần thời đại “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức”[8], các danh tướng đương thời sẵn lòng từ bỏ hoạn lộ, vinh hiển giả trá của vương triều Mông Thát mà dầm nắng trải sương, hy sinh mạng sống bảo vệ giống nòi. Tất cả trí tuệ, nhân đức, nhuệ khí vị nước quên thân ấy đã tạo nên nền văn minh Đại Việt cùng hào khí Đông A vĩ đại đứng trên cả tầm cao nhân loại thuở đương thời.

***

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn tấm lòng của nhà văn Phùng Văn Khai đã mang đến quyển sách Danh Tướng Triều Trần hết sức quý báu này. Trong bối cảnh nhiều tư tưởng nội sinh ngoại nhập dễ khiến chúng ta xa rời gốc gác nguồn cội và lịch sử dân tộc, hy vọng rằng mỗi trang sách sẽ tạo nênnguồn cảm hứng, một bài học quý giá để chúng ta hiểu sâu hơn và trân trọng hơn những giá trị lịch sử mà tổ tiên đã để lại. Chân thành cảm ơn!

Chào đông Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2024

Trúc Lan Thiện Trí

 


[1] The Cambridge History Of China, Volume 6, Alien Regimes & And Border States, trang 451.

[2] Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ NhàTrần, mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), trang 6a.

[3] Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, NXB Sử học, Hà Nội, 1961, T.IV, trang 3.

[4] Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Viện Sử Học, NXB Giáo dục, 1998, trang 468.

[5] Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, NXB Sử học, Hà Nội, 1961, T.I, trang 191.

[6] Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ Nhà Trần, mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), trang 54b.

[7] Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ Nhà Trần, mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), trang 55a.

[8] Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ Nhà Trần, mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), trang 9a.

 
 
 

Bình luận


bottom of page