top of page

TỰA THỜI LẬP CHÍ, TÍCH CỔ BIÊN KIM - LÊ QUÝ ĐÔN VÀ NGHỆ THUẬT KÝ THÁC TƯ TƯỞNG QUA THỜI CUỘC

1 thg 8
41 phút đọc

Quí bạn thương mến!

Nhân sinh tựa giấc mộng dài, thoáng chốc đã trăm năm. Kiếp người như bóng câu vụt qua cửa sổ, như sương đầu ngọn cỏ, như bóng chớp thoáng rực rồi vụt tắt giữa hư vô. Mấy ai tỉnh giấc mộng đời mà nhìn ra cõi phù sinh là huyễn? Mấy ai dừng bước giữa cuộc hồng trần, ngước mắt nhìn sao Ngưu sao Đẩu mà nghĩ đến chuyện nghìn năm? Vậy mà trong dòng mộng dài của thế cuộc vẫn còn kẻ lặng lẽ soi mình vào tinh tú, gắng tìm một lối đi cho đạo nghĩa văn hiến. Chính ở nơi giao hoà giữa hư vô và hữu hạn ấy, dáng hình Lê Quý Đôn dần hiện ra như một minh chứng trong cơn biến dịch của thời gian vẫn còn đó những tâm hồn thao thức cho vận mệnh nước nhà. Người đời sau mỗi khi nhắc tới ông thường không khỏi thán phục trước kho tàng trước tác “thiên kinh vạn quyển”, nhưng cũng không giấu được nỗi ngậm ngùi hình ảnh bậc đại nho đứng chênh vênh giữa chốn cung son gác tía. Mấy ai thấu được tấm lòng kẻ sĩ một đời ôm mộng “chắp lại cánh chim hồng” cho nền cựu học nước nhà giữa buổi giao thời nghiệt ngã khi những giá trị xưa cũ dần lung lay trước cơn nội loạn triền miên.


Rốt cuộc Lê Quý Đôn là ai? Kẻ sĩ vướng bận phù hoa, hay bậc minh triết dấn thân vào chốn quan trường như một phương cách nuôi dưỡng cội rễ văn hiến dân tộc? Một cây bút đại tài vướng vào mạng nhện quyền lực, hay một hiền triết biết dùng chính quyền lực làm phương tiện chuyển tải đạo học? Nay soi lại gương xưa, chẳng phải phân bua hơn thiệt mà để thấy rằng hào quang của lý tưởng bao giờ cũng mang theo cả những vết hằn của thời cuộc, những vết thương của kẻ sĩ độc hành giữa dòng đời ngược xuôi.


Lớp sương hồng thuở xưa đã nhạt nhòa theo bóng dương tà, nay chúng tôi xin mạn phép thắp nén tâm hương bày tỏ đôi lời suy ngẫm về cuộc đời danh thần Lê Quý Đôn. Chuyện cũ nay đà phôi pha theo năm tháng, nhưng gương xưa tích cũ hãy còn in dấu trong sử sách. Kẻ hậu học chẳng dám lạm bàn để khen chê thái quá, chỉ mong góp chút tâm tình về thân phận kẻ sĩ giữa thời ly loạn. Tựa nén nhang lòng kính cẩn dâng lên tiên hiền, mong được thầy bạn xa gần dùng tâm cảm đọc mà thịnh tình chỉ biểu thêm, cũng là dịp cùng nhau suy ngẫm về một kiếp người trong dòng chảy lịch sử. Chuyện xưa dẫu đã qua đi, nhưng bài học về đạo làm người, về cách sống và những di sản để lại thì vẫn còn mãi với thời gian.


Ảnh: Con cháu trực hệ của cụ Lê Quý Đôn tiếp chuyện cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải, bác sĩ Lê Minh Điệp và Trúc Lan Thiện Trí. Ảnh này do anh Trần Hà Trung chụp vào năm 2024.
Ảnh: Con cháu trực hệ của cụ Lê Quý Đôn tiếp chuyện cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải, bác sĩ Lê Minh Điệp và Trúc Lan Thiện Trí. Ảnh này do anh Trần Hà Trung chụp vào năm 2024.

***

Đất nước buổi ấy, dưới bóng những mái đình cong vút in lên nền trời mây bạc đã thấm đẫm một hồn cốt riêng. Từ nếp sống làng quê với lũy tre xanh rì rào trong gió, đến những điệu hát ví, hát ghẹo thấm đẫm tình người tựa mạch ngầm văn hóa chảy mãi không ngơi. Nhưng sự định hình ấy chỉ là lớp sóng lặng trên bề mặt, còn dưới đáy sâu, xã hội vẫn đang vật vã với những khát khao chưa tròn, những day dứt chưa được lắng nghe.


Lịch sử chẳng bao giờ là một bức tranh toàn bích. Nó như mảnh gương vỡ, chỉ phản chiếu từng mảng sáng tối rời rạc. Dõi mắt trông thấy một dân tộc đang vươn vai, song bước chân vẫn nặng trĩu hình bóng cũ. Trong khi văn minh phương Bắc vừa san sẻ vừa thử thách, nếu ta không dựa vào nội lực chính mình, không trụ vững trên nền cội rễ văn hóa, bóng dáng ta rồi sẽ mờ nhòa, chìm lẫn giữa vạn dải ánh sáng như cánh chim lạc giữa biển sáng ngời, vừa muốn vút bay, vừa sợ chìm mất trong hào quang rực rỡ.


Giữa lúc ấy, có những trí thức mở to đôi mắt nhận ra cái thế “ngàn cân treo sợi tóc” của văn hóa nước nhà. Họ muốn vượt thoát, muốn sánh ngang nên dấy lên phong trào “vô tốn Trung Hoa”. Nhưng khốn nỗi, lòng tự tôn đôi khi dẫn đến tự ti, sự bài ngoại đôi khi lại trở thành một kiểu sùng ngoại. Nhân tâm thời ấy như con thuyền không lái, lúc bị cuốn vào vòng xoáy của mặc cảm, lúc lại lao theo cơn gió của chủ nghĩa cực đoan. Cái giá của sự phát triển đôi khi không nằm ở những gì ta đánh mất, mà ở những thứ ta ôm giữ một cách tuyệt vọng đến mức quên mất bản ngã của chính mình.


Chính những nghịch lý ấy đã đưa dân tộc đến bên bờ vực của cuộc khủng hoảng toàn diện: khủng hoảng về tri thức lẫn tư tưởng. Lịch sử như đang thúc giục nhân tâm phá vỡ những bức tường kiến thức cũ kỹ, vượt thoát lũy tre làng của tư duy để đón nhận những luồng gió mới từ thế giới bốn phương. Và giữa lúc dân tộc còn đang ngập ngừng, Lê Quý Đôn đã hiện lên như một ngôi sao Bắc Đẩu, một kẻ sĩ dám đứng khỏi bóng đổ ngàn năm của văn hóa Trung Hoa để hướng tầm mắt về một chân trời tri thức toàn cầu rộng mở.


Mang trên vai sứ mệnh ấy, bước chân kẻ sĩ không chỉ in hằn trên những nẻo đường đất nước mà còn in dấu trên từng lời văn, con chữ. Chúng ta vẫn tự hào là một dân tộc hơn bốn nghìn năm văn hiến, nhưng mấy ai thấu được nỗi đau đứt gãy của mạch nguồn văn hoá dân tộc? Ngô Sĩ Liên từng xót xa trong biểu dâng sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Giáo mác đầy đường, đâu chẳng bọ cuồng bạo giặc Minh; sách vở cả nước đều thành tro tàn tai ương. Muốn tìm sự tích trong dấu than tro, khó tránh phân biện chữ ‘hợi-thỉ’ đúng sai”[1]. Những dòng ấy không chỉ là nỗi niềm của một sử gia, mà là vết thương chung của cả một dân tộc. Cho nên công việc sưu tầm và trước tác của Lê Quý Đôn, kỳ thực, không phải là thú tiêu khiển của kẻ hào hoa phong nhã mà là hành trình lấp đầy những khoảng trống ký ức. Đó không phải là công việc của một người chỉ có khát vọng suông mà phải là một trí tuệ uyên bác thâm hậu, một tấm lòng son sắt với non sông. Ông viết không chỉ bằng mực, mà bằng cả máu và nước mắt của một kẻ sĩ đau đáu với vận mệnh nước nhà.


Bằng đôi mắt của thế kỷ XXI, nhìn lại thời kỳ đất nước còn thắp những ngọn đèn leo lét, lúc mờ lúc tỏ, thì châu Âu đã rực rỡ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với những phát minh vĩ đại: máy hơi nước của James Watt (1765) mở ra kỷ nguyên cơ khí, xe lửa chạy bằng hơi nước (1804) rút ngắn mọi khoảng cách, những khám phá y học và vật lý làm thay đổi nhận thức nhân loại. Trong khi đó, nước nhà vẫn chìm trong cảnh: “Kẻ làm quan thì tranh nhau về danh, kẻ ra đời thì tranh nhau về lợi, cậy sang thì dựng ra lầu hóng mát, ở nhà ấm, cậy giàu thì làm ra nhà để múa, nơi để hát, thấy kẻ chết đói bên đường không giúp cho một đồng tiền, gặp kẻ ngủ trọ giữa trời không đắp cho manh chiếu…”[2]- một xã hội mà đạo đức và tri thức dường như đang trên đà thoái trào.


TÍCH CỔ BIÊN KIM


Cô đơn giữa những khát vọng của chính mình, ưu hoài với vận mệnh quốc gia, Lê Quý Đôn đã dành trọn đời mình để đi và viết, như con tằm nhả tơ, dệt nên tấm bản đồ tư tưởng dân tộc. Ông không chỉ “tích cổ biên kim” mà còn muốn xây dựng một nền tảng bách khoa toàn thư, một hệ tư tưởng vững chắc cho dân tộc. Ngay từ thuở niên thiếu đã ham thích sách vở, đến lúc thành danh, ông khởi bút trước tác. Năm 1749, Đại Việt Thông Sử (còn gọi Lê Triều Thông Sử) ra đời với 30 quyển, ghi chép hệ thống các sự kiện từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng. Bộ sách chẳng những bổ sung nhiều điều chưa từng thấy trong chính sử, mà còn trở thành “tấm gương lớn” phản chiếu lịch sử dân tộc, giúp hậu thế hiểu rõ ngọn nguồn thịnh suy.


Trong bước đường ngoại giao, từ năm 1760 - 1762, ông theo đoàn đi sứ sang Trung Hoa. Sau hơn hai năm trở về nước, ông soạn Bắc Sứ Thông Lục (1763). Đây là nhật ký hành trình, song vượt ra ngoài khuôn khổ một bản ghi chép, nó chứa đựng những quan sát tinh tế về văn hóa - xã hội phương Bắc, biểu lộ nhãn quan rộng mở của một học giả uyên bác. Tiếp đến năm 1768, ông cho ra đời Toàn Việt Thi Lục – một công trình đồ sộ trong lĩnh vực văn chương, tuyển chọn khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ Lý, Trần đến Lê. Tập hợp ấy chẳng khác nào “vườn hoa muôn hương sắc”, vừa bảo tồn tinh hoa thi ca, vừa chứng tỏ tầm nhìn bao quát của Lê Quý Đôn trong việc gìn giữ văn hiến nước nhà. Năm 1773, khi ở độ tuổi chín muồi của trí tuệ, ông hoàn thành Vân Đài Loại Ngữ. Tác phẩm này như “bách khoa thư” lớn nhất của thời trung đại, hệ thống hóa tri thức từ vũ trụ luận, địa lý, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, sản vật… Vừa chịu ảnh hưởng Tống Nho, vừa mang hơi thở sáng tạo Việt Nam, Vân Đài Loại Ngữ là minh chứng hùng hồn cho khả năng khái quát, phân loại và tầm vóc huệ trí của ông.

Đến năm 1776, khi giữ chức Hiệp trấn Thuận Hóa, ông soạn Phủ Biên Tạp Lục gồm 8 quyển. Đây là “bức tranh toàn cảnh” về xứ Đàng Trong: đất đai, dân cư, sản vật, kinh tế, chính trị… suốt gần 200 năm. Nhờ tác phẩm này, hậu thế mới có một tư liệu quý giá về vùng đất từng là nơi mở cõi, phản ánh vận động phức tạp của lịch sử. Một năm sau, ông dồn tâm huyết viết Kiến Văn Tiểu Lục, 12 quyển, tập hợp những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi sứ, đi trấn, đi dạy học. Tác phẩm không chỉ là bút ký, mà là “kho tư liệu sống” bao quát từ thành quách, thuế khóa, phong tục, sản vật đến văn chương. Mỗi trang viết đều mang hơi thở của cuộc sống, phản chiếu trí tuệ quan sát và tâm hồn khao khát hiểu biết. Ngoài những công trình ấy, ông còn để lại Quế Đường Thi Tập, Thánh Mô Hiền Phạm Lục, Quần Thư Khảo Biện, Thư Kinh Diễn Nghĩa,… Những trước tác này cho thấy Lê Quý Đôn không chỉ là nhà sử học, địa lý, nhà văn hóa mà còn là triết gia, tư tưởng gia với hoài bão kết nối tinh hoa phương Đông cùng thực tiễn Việt Nam. Bởi với ông, chỉ khi tư tưởng dân tộc mạnh mẽ, đất nước mới thực sự đồng hoà phát triển hưng thạnh.

 

TỰA THỜI LẬP CHÍ


Lê Quý Đôn sớm hiểu con đường của kẻ sĩ giữa thời loạn không phải lối mòn êm ái, muốn chấn hưng đạo học, muốn kiến tạo nền tư tưởng quốc gia tất phải bước vào bể công danh đầy sóng gió. Hoài bão lớn nhất đời ông có lẽ là tập hợp mọi dòng tư tưởng nội sinh ngoại nhập thành một trụ cột vững chắc, để tâm thức dân tộc đứng hiên ngang giữa những cơn chấn động dữ dội của thời thế.


Chí nguyện muốn thành ắt phải dựa vào quyền bính. Lê Quý Đôn thấu hiểu cải cách chính sự chỉ có thể thực hiện được khi nắm giữ chức vị trọng yếu, ít nhất cũng phải là ngôi tham tụng[3]. Năm Quý Tỵ (1773), ông được cử làm bồi tụng[4] trong phủ chúa, rồi tìm cách thông qua Huy Đĩnh[5] - viên hoạn quan được Trịnh Sâm tin dùng để mong gây dựng lòng tin nơi chúa. Nhưng ánh trăng soi xuống nước, dẫu sáng cả mặt hồ nào có chiếu tới được đáy sâu? Dù tài năng của ông được cả Trịnh Doanh lẫn Trịnh Sâm thừa nhận, rốt cuộc vẫn chưa một lần trao cho ông đủ quyền để thi thố. Suốt cả một đời, những bản tấu nghị cải cách của ông chỉ còn là tiếng vang lạc lõng, chưa thành hiện thực. Bởi vậy trên con đường chính trị, ông vẫn mang nặng nỗi bất đắc chí, ngay cả khi được trọng dụng nhất triều.

Lê Quý Đôn một đời bám chặt công danh, nhưng cái đích sau cùng chẳng phải để riêng mình hiển đạt mà cốt để dùng công danh làm bậc thang cho đạo học, lấy quyền lực làm phương tiện phát triển tư tưởng Việt Nam. Ngậm ngùi thay, giữa chốn quan trường đầy rẫy toan tính, khát vọng của ông cuối cùng vẫn chỉ là giấc mộng lớn chưa tròn.


Tháng tư năm Giáp Thìn (1784), Lê Quý Đôn qua đời tại quê mẹ ở làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Ninh. Chúa Trịnh Khải nghe tin, cảm thấy như mất đi một vật quý, bèn đề nghị vua Lê Hiển Tông bãi triều ba ngày để tỏ lòng thương tiếc. Không chỉ Trịnh Khải, mà cả Trịnh Sâm và Trịnh Doanh trước đó cũng hết mực trọng vọng ông. Nhìn lại lịch sử, khi âm mưu đảo chính của Trịnh Khải được Trịnh Sâm giao cho Lê Quý Đôn xét xử, trước ý chúa, “bọn Xuân Thụ, Thế và Thẩm nhận hết tội lỗi. Sâm bèn truất Khải xuống làm con út (quý tử), giam ở nội phủ”[6]. Sau khi Trịnh Sâm qua đời, Trịnh Khải phế Trịnh Cán, tự lập làm chúa. Nhưng khi Lê Quý Đôn mất, chính Trịnh Khải lại xin vua để tang ba ngày. Điều này cho thấy, một mặt Lê Quý Đôn tuân lệnh Trịnh Sâm, nhưng vẫn khéo léo để đường sống cho Trịnh Khải, mở lối cho ông ta lên ngôi sau này. Trong việc triều chính, nếu Lê Quý Đôn xử lý gay gắt, ắt không có việc Trịnh Khải dâng sớ xin vua để tang. Dù không rõ Lê Quý Đôn đã tính toán thế nào, nhưng rốt cuộc ông đã để lại trong lòng họ Trịnh một ấn tượng sâu đậm. Bởi thế, sau khi mất, tên thụy của ông được tôn là Văn Trung.


Họ Trịnh nắm mọi quyền hành ở Bắc Hà, Lê Quý Đôn được trọng dụng nên muốn nương theo đó để thực hiện pháp chế. Song, ý định thiết lập pháp chế của ông bất thành do những mâu thuẫn nội tại trong triều chính quá gay gắt. Qua sự kiện này có thể thấy năng lực của Quý Đôn là bậc kỳ tài siêu việt về học vấn, nhưng trong chính trường, dù là người thâm trầm đa mưu vẫn không thể so bì với tài quán xuyến của các chúa Trịnh. Họ biết dùng người tài để phục vụ mình, nhưng không để người tài nắm hết quyền hành. Người đời nói họ Trịnh đa mưu quả không sai, một mặt yêu mến, trọng dụng Lê Quý Đôn nhưng những kế sách thâm sâu nhất của ông chưa bao giờ được phủ chúa chấp thuận. Bởi lẽ, thành công của Lê Quý Đôn trong việc chấn chỉnh pháp luật, thiết lập pháp chế và định hình tư tưởng dân tộc sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến ngôi vị nhà chúa.


Khi nhân dân nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của mình, họ sẽ vượt qua khuôn mẫu kiếp nô lệ dưới tay chuyên quyền độc đoán, khi họ trưởng thành với ý thức chính trị sâu sắc cũng là lúc chế độ quân quyền lũng đoạn sẽ lung lay. Có thể nói Lê Quý Đôn tài ba, nhưng cao tay hơn có lẽ là các đời chúa, mà tiêu biểu là Trịnh Sâm. Chúa Trịnh Sâm là bậc kỳ tài về văn chương thơ phú, có tài hoa của người nghệ sĩ nên mưu lược và biến hóa của ông trong phép trị quốc tài tình đến mức Lê Quý Đôn dẫu biết cũng không thể không phục vụ dưới trướng họ Trịnh. Xét cho cùng, Lê Quý Đôn thành công trong văn chương, nhưng cũng là một nước cờ trong bàn tay chính trị của các chúa Trịnh - quan điểm này tương đồng với cách diễn giải của nhà văn Thu Viễn trong tiểu thuyết dã sử “Phi Thiên Bí Lục”, rằng Trần Ích Tắc dẫu tài ba, quảng văn bác học cũng chỉ là nước cờ trong tay Trần Nhân Tông - người thấu suốt mọi việc. Chẳng qua, vua dùng Tắc vào sự giỏi giang của ông ta, còn sự phản trắc thì biết mà tránh đi.


CẢI CÁCH CHÁNH SỰ


Giữa buổi chính sự rối ren, phe cánh tranh quyền, lợi danh giằng giật, triều đình tựa con thuyền mắc cạn giữa hai dòng phân lưu. Kẻ sĩ phần nhiều chọn con đường quy ẩn, theo dấu Lão Trang, gởi thân vào sơn dã để giữ lấy thanh danh. Nhưng Lê Quý Đôn thì khác, ông không quay lưng với thế cuộc mà tự nguyện gieo mình vào bể trần, lấy công danh làm nhịp cầu để thỏa mộng tri thức vô biên, lại lấy học thuật làm ngọn đuốc soi đường cho tư tưởng quốc gia.


Năm Giáp Thân (1764), chứng cảnh bá quan lộng quyền, phép nước phai mờ, ông dâng sớ lên chúa Trịnh Doanh, xin lập pháp chế để đưa cơ đồ trở về nếp cũ. Ẩn trong lòng ông là hoài bão muốn khôi phục uy đức như thuở Lê Thái Tổ khai triều, để triều chính làm chỗ dựa cho muôn dân. Nhưng tiếc thay, vận nước đã nghiêng, kẻ cầm quyền lại vướng vào những tranh chấp thời cuộc nên lời tấu ấy rốt cuộc tan loãng như chuông ngân trong gió. Ấy chính là va chạm gay gắt giữa một bên là lợi ích hẹp hòi của giới thống trị, và một bên là khát vọng canh tân của bậc trí giả.


Năm Canh Dần (1770), Quý Đôn lại dâng sớ xin khôi phục phép đồn điền nơi Yên Định, Cẩm Thủy, Quảng Bình, Nông Cống, mong lấy lương thảo nuôi quân. Phép ấy vốn có từ buổi Lê sơ, từng cứu đói muôn dân, dựng nền an vũ, nay lại bị bỏ phế. Đương thời binh lính mỗi ngày một nhiều, vừa dùng đàn áp nghĩa quân, vừa đánh chống các chúa Nguyễn ở cánh Nam mà chẳng tự sản xuất nên gánh nặng cơm áo đều trút cả xuống vai dân áo vải. Ông thấy rõ khai khẩn đất hoang vừa nuôi quân, vừa cứu dân, ấy là thuận lý của trời, hợp lòng của người. Nhưng khi Trịnh Sâm sai Lý Trần Thản đi khảo sát, Thản lại tâu rằng không thể làm được. Thế là chí hướng của ông một phen lại tiêu tan như hạc trắng muốn vút bay mà bị cuồng phong vùi dập, tiếng kêu vọng trời mà chẳng thấu tai người.


Theo chép trong Việt sử thông giám cương mục, vào lúc nắm quyền ở phủ chúa, ông mang tiếng thu vơ của cải để làm giàu cho họ Trịnh. Năm Quý Tỵ (1773), cùng Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Phương Đĩnh lĩnh mệnh điều tra dân số, lập lại hộ tịch. Hai người kia chỉ làm qua loa, riêng Quý Đôn xét hỏi gắt gao khiến dân chúng oán hận, có kẻ viết thư nặc danh dán nơi phủ đường xin bãi ông mà thay Hoàng Ngũ Phúc. Bởi vậy Trịnh Sâm phải cho cả Ngũ Phúc cùng Quý Đôn cùng đôn đốc việc ấy, lấy đó để vỗ an lòng dân.


Thoạt nhìn, cách tra xét của Quế Đường tiên sinh dường như khắc nghiệt, song trong đạo trị nước, đó là tất yếu: một mặt chấn chỉnh thuế khóa, một mặt lập nền cho an bang. Nhưng phàm kẻ sĩ thường đi một mình, ý hướng xa rộng mà mắt dân gian chỉ thấy việc trước mắt thế nên bước đi của ông vừa đơn độc lại vừa nghịch thế. Trịnh Sâm vừa dùng trí lực của Quý Đôn, vừa mượn uy tín của Ngũ Phúc, đủ biết chúa vừa cần Quý Đôn, vừa ngại Quý Đôn.


Song nếu chỉ nhìn thấy sự nghiêm khắc mà cho rằng ông tàn bạo thì thật phiến diện. Trong Thư kinh diễn nghĩa, Lê Quý Đôn đã nhắc lời Đại Vũ: “Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên”. Ông lại dẫn lời vua Thuấn: “Nguy cơ trong thiên hạ có thể là họa có thể là phúc, gốc ở dân. Dân yên thì sống vui, dân không yên thì coi thường cái chết, dân coi thường cái chết thì loạn”. Vậy mới hay, bi kịch của Lê Quý Đôn một bên là chí lớn muốn trị bình, một bên là thực cảnh phải phụng sự quyền lực họ Trịnh. Ông nghiêm khắc với dân để làm đúng trách nhiệm, song trong thẳm sâu lại muốn khoan thư sức dân. Ông tận tụy với chúa để được thi hành chí lớn, song chính chúa lại dè chừng, không bao giờ cho ông quyền hạn tuyệt đối. Cả một đời, ông phải bước đi trên sợi dây mỏng manh, giữa tiếng khen của sử sách và tiếng oán của dân gian. Lê Quý Đôn trong con mắt hậu thế giống như kẻ lữ hành trong sa mạc rộng lớn, trong tay chỉ có tấm bản đồ được vẽ bằng những đường nét Nho – Phật – Lão, nhưng trước mặt lại là thực cảnh cằn khô của chính trị rệu rã và dân sinh bần cùng. Ông biết rõ hệ thống phong kiến đã chồng chất gánh nặng lên vai lê dân, nhưng để cứu vãn, ông không thể phá vỡ hệ thống ấy mà chỉ có thể dùng ngay nó để cải chính nó. Đó là nghịch lý trong ý thức, một vòng tròn khép kín mà ông buộc phải bước đi.


Trong vòng xoáy ấy, biện pháp ông đưa ra là hòa hợp giữa pháp trị và đức trị, tức dùng luật pháp để răn đe và dùng nhân nghĩa để an lòng. Ông nói: “Dùng pháp độ để làm khuôn mẫu. Nhưng chính sách cụ thể phải theo phong tục và tuỳ thời”, “Cai trị theo đạo trung dung, nghĩa là nghiêm khắc và khoan dung hài hòa nhau[7].


Thực chất, trong sự bế tắc này, ta thấy rõ bi kịch của một bậc trí giả đủ để nhận ra con đường cứu dân, nhưng thế lực chính trị lại giam hãm ý tưởng ấy trong lồng son quyền lực. Ông chẳng thể quay về núi rừng như ẩn sĩ Lão Trang, bởi máu trong ông còn nung nấu khát vọng hành đạo. Cũng chẳng thể làm một kẻ phản kháng, bởi cốt lõi đạo học trong ông vẫn tin vào trật tự. Thế là ông chỉ còn lại con đường cất tiếng kêu, mà tiếng kêu ấy vang ra giữa sa mạc gió cát, bị chôn vùi ngay khi chưa kịp vọng xa. Và chính trong nghịch cảnh ấy, hình ảnh Lê Quý Đôn hiện lên vừa như một ngôi sao lẻ loi trên nền trời chính trị mịt mùng, vừa như cánh chim bị cắt mất một nửa đôi cánh - bay được nhưng không thể nào thoát khỏi quỹ đạo mà định mệnh đã buộc sẵn.


Nhìn lại con đường Lê Quý Đôn đã qua tựa như ánh trăng soi mặt hồ, bóng toả sáng trong nhưng chẳng khi nào được tròn đầy, vừa lung linh phản chiếu, vừa chập chờn theo sóng gợn. Ông là cánh hạc muốn tung bay lên tầng mây xanh, song bầu trời chính trị nhiễu nhương đã vây bủa thành lưới sương, khiến cánh hạc kia dẫu cao quý cũng không sao bay hết chí nguyện. Trong cõi nhân sinh, ấy là nỗi bi hùng của một kẻ sĩ dùng công danh làm phương tiện để chấn hưng đạo học, nhưng rốt cuộc chỉ có đạo học còn lưu lại với đời, còn công danh thì về với khói sương.


BANG GIAO ĐẠI VIỆT


Nội trị dẫu còn lắm nỗi phân vân, song không thể bỏ quên tài bang giao của Lê Quý Đôn trong mỗi chuyến đi sứ, một thân mang quốc thể đã biến văn chương thành gươm giáo, lấy trí tuệ dựng thành trì, giữ vững thanh danh sông núi giữa chốn thiên triều hoa lệ.


Năm Tân Tỵ, niên hiệu Cảnh Hưng 22 (1761), ông cùng sứ bộ sang Yên Kinh yết kiến Hoàng đế nhà Thanh. Chuyến đi ấy tựa như hồi đối luận giữa hai nền văn hiến. Tiếng tăm “thiên hạ đệ nhất kỳ tài” của ông vang dội khắp kinh thành, khiến văn thần đất Bắc nô nức tìm đến khảo nghiệm. Nhưng càng tranh luận lại càng thêm khâm phục, cho đến khi phải cúi mình trước biển học bao la của vị sứ giả phương Nam. Đặc biệt, trong buổi tao ngộ cùng sứ thần Triều Tiên, cuộc đàm đạo hóa thành một diễn đàn quốc tế thu nhỏ, nơi ba nền học thuật Đông Á giao thoa, để minh chứng rằng Đại Việt cũng là một cõi văn hiến sánh ngang cùng thiên triều và cận quốc.


Đáng nhớ hơn cả là khi các quan lại Thanh triều khinh miệt gọi sứ đoàn ta là “di quan di mục”. Lê Quý Đôn cất tiếng phản đối bằng niềm tự tôn văn hiến. Ông nhắc nhở Đại Việt là quốc gia độc lập, có lịch sử, có văn hóa, chẳng thể đem xếp ngang hàng với man di. Từ ấy, triều Thanh trọng thị gọi phái đoàn ta là “An Nam cống sứ”. Ấy là một chiến thắng của trí tuệ, chiến thắng không cần gươm giáo, mà chỉ bằng sức mạnh của ngôn từ và nhân cách.


Nhìn lại, Lê Quý Đôn hiện ra không chỉ là bậc bác học uyên thâm, mà còn là một nhà ngoại giao bậc thầy. Mỗi bước chân trên đất Yên Kinh, mỗi lời đối thoại đều khẳng định Đại Việt sánh vai cùng Thiên triều bằng trí lực và nhân cách. Nếu đặt ông trong dòng dài bang giao Đại Việt, ta thấy một mạch ngầm liên tục từ những trí thức đại diện quốc gia lấy văn hiến làm tường thành, lấy lời nói làm vũ khí. Trước đó, Phùng Khắc Khoan từng đối thơ khiến quan Minh kính nể, được hậu thế tôn xưng “Trạng Bùng”. Về sau, Nguyễn Công Trứ đi sứ vẫn ung dung, giữ khí phách chẳng sờn. Còn Lê Quý Đôn là “bách khoa toàn thư sống”, đem cả kho tri thức dân tộc để đối chiếu cùng văn hiến Trung Hoa, Triều Tiên, qua đó chứng minh rằng Đại Việt chẳng hề là “dị bang”, mà là một trung tâm văn hóa có tư cách đối thoại bình đẳng.


Từ Ngô Sĩ Liên chép sử dựng bản lĩnh quốc gia, Phùng Khắc Khoan dùng thi ca làm khí giới, đến Lê Quý Đôn lấy học thuật làm ngọn cờ, rồi Phan Thanh Giản bi thương trong buổi giao thời với phương Tây đều cho thấy bang giao chưa bao giờ chỉ là lễ nghi, mà là nơi thử thách tầm vóc và trí tuệ của một dân tộc. Trong mạch dài ấy, Lê Quý Đôn chính là sứ giả kết tinh tinh thần tự tôn văn hiến, lấy trí tuệ làm thuẫn, lấy học vấn làm gươm, dựng nên một tấm khiên vô hình để bảo vệ quốc thể Đại Việt giữa trường quốc tế vốn lắm thị uy.


QUYỀN THUẬT TRANH ĐẤU


Năm Giáp Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764), khi nhậm chức Đốc Đồng xứ Kinh Bắc, Lê Quý Đôn đã thẳng tay ngăn cấm bọn quyền quý áp bức dân nghèo. Theo Duyên Hà Phả Ký và Lê Quế Đường Tiên Sinh Tiểu Sử, ông thi hành chính sách ức chế hào tộc, khiến kẻ quyền thế không thể tự do bóc lột dân đen.


Năm Nhâm Thìn (1772), ông vâng mệnh chúa Trịnh đi điều tra nỗi khổ dân và tệ nhũng nhiễu ở Lạng Sơn. Với tấm lòng “phụ mẫu chi dân”, ông dâng tờ tấu mạnh mẽ lên án quan Đốc trấn Lê Doãn Thân, khiến Doãn Thân bị cách chức. Nhưng cũng từ đó, sự liêm chính trở thành lưỡi dao hai lưỡi. Bảo vệ dân chúng thì được lòng trăm họ, song lại thành cái gai trước mắt những kẻ đang say men quyền lực.

Song, bi kịch đời ông nào dừng ở một phen. Đến năm Kỷ Hợi (1779), chuyện Hoàng Văn Đồng ở Tụ Long lại dấy sóng phong ba. Chỉ vì giam kẻ thiếu thuế rồi để chúng vượt ngục, sinh loạn, thế là kẻ tiểu nhân thừa cơ gièm pha, đẩy ông xuống chức. Ấy cũng là cái họa thường thấy của bậc trung liệt, một khi cầm cán cân công chính, tất trở thành cái gai trước mắt bè đảng quyền môn. Nhưng rồi chẳng bao lâu (1781), triều đình lại triệu dụng, phong ông làm Quốc Sử Tổng Tài, giao giữ vận mệnh văn hiến quốc gia. Thử hỏi, chẳng phải chính sự trở lại ấy đã chứng minh kẻ sĩ chân chính có thể bị gạt bỏ, song ánh sáng học thuật và tiết tháo không thể bị vùi dập, tựa như trăng ngàn khi mây vây che khuất, rốt cuộc vẫn sáng soi bốn bể.


Trước đó ít lâu, tháng tư năm Mậu Tuất (1778), Lê Thế Toại từng dâng khải công kích ông bằng lời lẽ cay độc: “Dĩnh Thành hầu Lê Quý Đôn dụng tâm quanh co, bỉ ổi, mong muốn càn rỡ những điều quá hạn định của mình: nào lập mưu cho con ăn cắp bài văn thi ở trong trường, nào vụng trộm chiếm nơi cấm địa. Ông Mạnh Tử nói: ‘Quan sát con ngươi của từng người, thì người gian người ngay, không thể nào giấu giếm được’. Con ngươi của Lê Quý Đôn lúc nào cũng đưa đẫy lia lịa, nếu dùng người này giữ chức cao cả tất nhiên làm tai hại cho nhân dân”[8]. Đủ những lời cay nghiệt, tưởng có thể làm lu mờ thanh danh. Nhưng chúa Trịnh Sâm chỉ im lặng. Sự im lặng ấy chẳng phải đồng tình, cũng chẳng phải phủ nhận, mà như một cách mặc nhiên thừa nhận với học vấn, uy tín và khí tiết, Lê Quý Đôn là một nhân vật mà triều đình không thể thay thế, dẫu ghét cũng chẳng bỏ, dẫu chê cũng chẳng rời.


Đặt ông trong dòng chảy lịch sử mà xét, thế mới thấy tấm gương kẻ sĩ vốn nhiều phen nhuộm lệ. Trước ông, Chu Văn An dâng “Thất trảm sớ” xin chém bảy nịnh thần, lời chẳng được nghe đành treo mũ rời quan, giữ tiết tháo mà mặc triều chính trôi chìm. Sau vạn thế sư biểu Chu Văn An, quan đại thần Nguyễn Trãi một lòng “ưu quốc ưu dân” dựng nghiệp cho nhà Lê, rốt lại vẫn bị hãm oan Lệ Chi Viên để lại nỗi bi thống thiên thu. Đến thế kỷ XIX, Phan Thanh Giản dốc lòng cầu hòa trong cơn quốc vận suy vi, cơ đồ mất mát, ông liền chọn cái chết để giữ trọn tiết tháo, lưu lại tiếng thở dài ngậm ngùi cho hậu thế. Thế mới hay, phận kẻ sĩ trong vòng xoáy quyền lực, giữ mình thanh liêm thì cô độc, thuận theo thời thế thì mất nghĩa. Giữa đôi đường đều là bi kịch, song chính từ những bi kịch ấy mà tiết tháo kẻ sĩ sáng rực như sao, làm tấm gương bất hủ cho muôn đời.


Chính ở chỗ ấy, nhân cách Lê Quý Đôn hiện lên đa diện, giàu kịch tính và để lại cho hậu thế một câu hỏi lớn: liệu sự liêm chính có thể tồn tại nguyên vẹn trong một cơ chế vốn nuôi dưỡng tham quyền và phe cánh? Và có lẽ, đó chính là bi kịch muôn đời của “kẻ sĩ trong guồng máy”. Lê Quý Đôn đã chọn con đường nương theo công danh để vun bồi cho đạo học, lấy chức vị làm phương tiện để uốn nắn chính sự và gieo mầm cho tư tưởng Việt Nam.


Thế nhưng, những va chạm quyền lực, những đối kháng lợi ích nơi triều chính rốt cuộc cũng dồn đẩy Lê Quý Đôn vào một trong những biến cố nặng nề nhất cuộc đời: vụ gian lận thi cử của con trai ông là Lê Quý Kiệt. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Tháng 10, mùa đông. Mở khoa thi hội các cống sĩ. Cho bọn Ngô Thế Trị và Phan Huy Ích 18 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân; xử tội Đinh [Thì] Trung đày đi Viễn Châu; giam Lê Quý Kiệt vào ngục.


Quý Kiệt con Quý Đôn. Kỳ đệ tứ khoa thi này, Quý Kiệt cùng Đinh [Thì] Trung đổi quyển cho nhau để làm bài. Việc bị lộ, Đinh [Thì] Trung phải tội lưu đi Yên Quảng, Quý Kiệt phải trở về làm dân. Đinh [Thì] Trung nhân phát giác bức thư riêng của Quý Kiệt và cáo tố là do Quý Đôn chủ sự. Trịnh Sâm lấy cớ Quý Đôn là bậc đại thần, bỏ đi không xét, mà luận thêm tội Quý Kiệt, bắt giam cấm ở ngục ở cửa Đông”[9].


Sách Cương mục còn phê gay gắt: “Hai người cùng một tội mà xử phạt khác nhau, sao gọi là công bằng thỏa đáng được? Xét hành trạng của Quý Đôn, không có một điều gì đáng khen”[10]. Lời phê ấy như một nhát bút chí mạng, phủ định gần như toàn bộ nhân cách và sự nghiệp của ông. Song, thử hỏi, lịch sử nào không bị nhuộm màu bởi tâm tư thời đại? Việc lấy một vụ án thi cử vốn mang nhiều uẩn khúc, lại xảy ra giữa lúc phe cánh chính trị ganh ghét để quy kết cả cuộc đời một học giả tầm cỡ chẳng phải phiến diện hay sao?


Ở đây, ta thấy rõ vòng xoáy oan nghiệt của quyền lực khi đã đứng ở trung tâm chính trường, mỗi bước đi, mỗi vết gợn trong gia đình đều có thể trở thành mũi dao công kích. Con trai Lê Quý Đôn vướng vào sai phạm thi cử, dĩ nhiên không thể bênh vực nhưng việc đẩy trách nhiệm lên người cha, biến ông thành kẻ “chủ sự” lại cho thấy tính chất lợi dụng vụ việc để hạ bệ uy tín. Đối với Lê Quý Đôn, đây không chỉ là một cú đánh vào gia phong mà còn là một vết thương trong sự nghiệp quan trường.

Từ đây ta đặt lại vấn đề về nhận định “nhà bác học Lê Quý Đôn từng khiến thần đồng Việt chết yểu”. Nếu quả thật Thì Trung đã nhận tráo bài, xét theo ý thức của một nhà nho với năm chữ vàng Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín, hành động tráo bài trong khoa thi Hội năm 1775 đã cho thấy rõ sự đứt gãy của Đinh Thì Trung ở nền tảng nhân cách. Người quân tử phải lấy “thành tín” làm gốc, bởi không có Tín thì mọi học vấn và công danh đều chỉ là hư danh. Vậy mà Thì Trung, tuy học thức vang danh lại dễ dàng sa ngã trước một lời gợi ý, một sự ràng buộc hay một cám dỗ lợi danh hay sao? Nếu nói vì sợ uy quyền của Lê Quý Đôn mà buộc lòng phải đổi bài, thì ấy là sự yếu hèn, không xứng với phẩm chất của một nho sinh. Nếu nói vì mưu cầu công danh mà chấp nhận đánh đổi, thì ấy là sự vụ lợi, không xứng với tư cách của bậc sĩ tử. Dẫu thế nào, một nhân cách thực sự vững vàng đã không bao giờ để mình rơi vào chỗ ô nhục như thế.


Do vậy, câu hỏi cần đặt lại là: đổi bài thì có còn là hiền tài? Người sĩ tử nếu đủ nhân cách để giữ tiết tháo, dẫu có thi rớt vẫn là kẻ sĩ đáng trọng. Còn đã thỏa hiệp, đã gian trá, thì dẫu có văn tài chói lọi cũng chỉ là “giỏi chữ mà không đủ nhân”. Vụ việc này vô tình hay hữu ý lại trở thành một phép thử nhân cách, sàng lọc rõ ràng giữa cái gọi là “thần đồng” và một nhà nho chân chính. Vậy đừng vội nói rằng Lê Quý Đôn đã giết chết một nhân tài, mà phải nói rằng vụ việc đã phơi bày sự thật về phẩm chất của kẻ sĩ thời bấy giờ.


Ở góc nhìn khác, ta cũng không thể bỏ qua cái bóng quyền lực của triều chính. Trên bàn cờ chính trị đầy hiểm trá, một nhân vật quyền biến như chúa Trịnh Sâm ắt không thể ngồi yên nhìn đại thần họ Lê ngày càng vươn cao. Từ năm 1773, Lê Quý Đôn đã được bổ làm Bồi tụng, nhưng thực quyền thì chưa từng được trao trọn. Phải chăng, chúa Trịnh vốn đã thấy ở ông một tâm ý khó lường, một trí tuệ khó kiểm soát, nên từ sớm tìm cách chế ngự? Việc phát hiện vụ tráo bài không hẳn chỉ là sự tình cờ mà có thể là một nước cờ đã được sắp đặt, một cái bẫy tinh vi để ràng buộc uy tín Lê Quý Đôn thông qua sai lầm của con trai ông. Quý Kiệt dẫu tài giỏi đến đâu, đã trở thành con tốt hy sinh trong ván cờ quyền lực giữa chúa Trịnh và vị đại học giả đất Kinh Bắc.


Vụ án không chỉ thuần túy là chuyện thi cử, mà là kết tinh của nhiều mạch ngầm mâu thuẫn giữa trí thức và quyền lực, giữa đạo lý và lợi danh, giữa cá nhân và chính trị. Nếu chỉ lấy một vụ án ấy để phán xét cả đời Lê Quý Đôn, e rằng chẳng khác gì lấy một vết mực nhỏ để phủ nhận cả pho tàng thư. Cái cần nhớ về ông, vẫn là trí tuệ bách khoa, là công lao “tích cổ biên kim”, là sự tận tâm với quốc gia xã tắc chứ không chỉ là một nỗi oan gắn với lỗi lầm của người con.


Trong lịch sử, chính trường không hiếm chuyện bè phái thanh trừ lẫn nhau. Nhưng những người ngay thẳng với xã tắc bao giờ cũng được nhân dân soi xét lại. Đôi mắt của dân chúng là quan toà công minh nhất, thẩm định sự đúng đắn của một nhân vật lịch sử. Dưới thời Lê sơ, đại án Lệ Chi Viên chém đầu ba họ Nguyễn Trãi thấm đẫm nước mắt nhân dân, và đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã minh oan cho ông. Hay đời nhà Lý, vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh hóa hổ giết vua cũng cần được nhìn nhận lại, đó có thể là âm mưu chính trị nhằm hạn chế ảnh hưởng của Nho giáo khi đứng trước sự trỗi dậy của Phật giáo. Thuở ấy, đạo Phật đang trên đà rơi vào mê tín uỷ mị, còn Nho giáo bị đẩy lùi. Sự can ngăn của Lê Văn Thịnh đại diện cho Nho học với việc tôn sùng Phật giáo quá mức có thể là nguyên nhân dẫn đến nghi án này.


Cũng như vậy, vụ án của Lê Quý Đôn cần được nhìn nhận trong bối cảnh chính trị đầy phức tạp thời Lê - Trịnh. Có thể, đây chỉ là một nước cờ trong cuộc chơi quyền lực, nơi chúa Trịnh dùng mọi cách để khống chế những nhân vật tài năng nhưng khó kiểm soát. Trong thiển học của mình, chúng tôi ngẫm thấy Lê Quý Đôn là tác giả một cuộc gian lận thi cử bất thành, hoặc với tất cả tài hoa và khí phách cũng đã trở thành nạn nhân của những toan tính chính trị đầy mưu mô. Dù đứng ở góc nhìn nào, ta cũng không thể chỉ dựa vào một sự kiện đơn lẻ để phán xét cả cuộc đời và sự nghiệp quan đại thần họ Lê. Một nhân vật như Lê Quý Đôn, với trí tuệ bách khoa, với hàng chục bộ trước tác trải rộng từ sử học, triết học, văn học đến địa lý, thiên văn, thật khó có thể bị giản lược thành một kẻ thủ đoạn chỉ vì vụ án thi cử còn nhiều nghi ngờ. Nhìn lại những gì ông đã cống hiến cho quốc gia, ta thấy rõ một tấm lòng thao thức trước nỗi lo mất nước, một ý chí chấn hưng văn hiến, một trí tuệ mong mỏi đưa Đại Việt sánh cùng cường quốc. Lịch sử nhiều khi như tấm gương mờ, không phải lúc nào cũng soi rõ bóng người. Vậy nên, thay vì vội vàng kết án, hãy để thời gian và sự công minh của hậu thế gạn đục khơi trong. Với Lê Quý Đôn, có lẽ điều cần nhớ nhất vẫn là khí phách và trí tuệ của một bậc đại học giả đã “tích cổ biên kim” để làm rạng rỡ văn hiến nước nhà.


DỤNG NHÂN NHƯ MỘC


Trong sử Việt, chúa Trịnh hiện lên như bậc quân chủ đa mưu túc trí, nắm vận mệnh quốc gia trong thế “vua Lê - chúa Trịnh” nhiêu khê phức tạp. Không ngồi ngai vàng mà quyền lực vẫn trong tay, không xưng đế hiệu mà thực quyền lại quy tụ nơi phủ chúa. Muốn giữ cơ đồ lâu bền, họ chẳng chỉ dựa vào binh hùng tướng mạnh, mà còn cậy đến nghệ thuật dụng nhân: vừa khoan dung vừa ngờ vực, vừa nâng niu vừa kiềm chế, vừa trọng đãi hiền tài, lại vừa dè chừng khí phách. Ấy chính là thứ “quyền thuật” khéo léo mà nghiệt ngã, tinh vi lại xảo biện. Và trường hợp Lê Quý Đôn không nằm ngoài minh chứng điển hình cho nghệ thuật ấy.


Chúa Trịnh xem Quý Đôn tựa khối nam mộc quý hiếm giữa đời. Nếu khéo dũa mài, tất tạo thành lương đống, chống vững càn khôn, nhưng nếu để tự nhiên sinh trưởng ắt sẽ tạo thành cổ thụ, sum suê che khuất nhật nguyệt. Do vậy họ trọng dụng ông, song không bao giờ trao quyền hành thực sự. Lê Quý Đôn từng giữ chức Bồi tụng, tức Phó Tể tướng nhưng thực quyền lại hạn chế. Đây không phải vì chúa Trịnh nghi ngờ tài năng, mà chính vì sợ một trí tuệ quá xuất chúng có thể trở thành nguy cơ. Để Lê Quý Đôn đứng gần ngai vàng nhưng tuyệt đối không chạm tới hạt ngọc quyền lực ắt hẳn là một mưu lược dụng nhân của nhà Chúa.


Đối đãi với Lê Quý Đôn theo phép “dĩ nhu chế cương”, trọng mà không buông, nâng mà không thả, ban danh vị để rạng triều nghi mà bớt thực quyền để yên thế cuộc, cho đứng gần trung khu mà vẫn giăng rèm kềm toả. Ấy là cách dùng người vừa trân quý vừa cẩn mật, lấy tài trí của Quý Đôn mà ích nước, lại lấy khuôn phép của triều nghi mà ràng buộc trong vòng kỷ cương. Đến khi Lê Thế Toại dâng sớ đàn hặc, chúa bèn im lặng. Cái im lặng ấy không phải vô vi bất chấp, mà là chủ ý “lấy tĩnh chế động, lấy hư thụ thực”. Vì sao phải lặng? Bởi nếu lập tức bênh vực là dồn thêm oán ghét vào Quý Đôn, làm nảy mầm kiêu khí nơi bầy tôi, lại khiến ngôn luận e dè, triều cương mất chỗ can gián. Hàn Phi Từng trong thuyết trị quốc của mình cũng từng nói, “không được tỏ tình thương hay ghét, mà cũng không được giả vờ thương hay ghét”[11]. Nếu liền tay trừng phạt là phế bỏ hiền tài, tự làm nghèo trí lực chính sự, lại trao món lợi cho kẻ mượn sớ tranh quyền. Lặng mà quan sát là giữ thế “cầm cân” để quyền lực không nghiêng, danh dự không sụp.


Qua cách đối xử với Lê Quý Đôn, chúa Trịnh không chỉ thể hiện tài năng lãnh đạo mà còn phơi bày những giới hạn của tầm nhìn. Họ giữ được ngai vàng qua nhiều đời, nhưng cũng vô tình chặn đứng những khả năng vĩ đại có thể đưa đất nước bứt phá. Bài học từ câu chuyện này không nằm ở chỗ dùng người khéo léo, mà ở sự can đảm để tin tưởng và giải phóng tài năng thực sự. Bởi một quốc gia chỉ thực sự hưng thịnh khi những cây đại thụ được tự do vươn tới mặt trời, chớ không phải mãi mãi là những cây bon sai được uốn nắn theo ý muốn của người làm vườn. Bằng không, hiền tài cũng chỉ như “cây quý bị bó chậu” - vẫn tỏa hương nhưng chẳng bao giờ vươn tới trời xanh.


BÁC HỌC ĐA TRUÂN


Hiện lên trong lịch sử dân tộc như một hiện tượng hiếm có, một trí tuệ uyên thâm, một nhà cải cách đầy tâm huyết, nhưng cũng là một kẻ sĩ mang đầy bi kịch của thời cuộc. Hành trạng và con người Lê Quý Đôn là sự kết hợp phức tạp giữa khát vọng chấn hưng đất nước và những giằng xé trong môi trường chính trị đầy rẫy xung đột. Lê Quý Đôn sở hữu trí tuệ siêu việt hiếm thấy trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, với hơn 40 tác phẩm đồ sộ trải dài từ lịch sử, địa lý, văn học đến triết học, ông thực sự là “bách khoa toàn thư” của thời đại. Không chỉ tiếp thu tinh hoa Nho giáo, ông còn am tường Phật học, Lão học, và có tầm nhìn vượt xa các nho sĩ đương thời. Việc ông chủ động đến bái yết Khổng Miếu khi đi sứ Trung Quốc cho thấy sự tự tin của một trí thức Việt Nam dám đối thoại ngang hàng với văn hóa Thiên triều.


Giữa buổi loạn ly chính trị cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn mang trong mình hoài bão “trị quốc bình thiên hạ” của Nho gia, nhưng lại bị cuốn vào vòng xoáy của những toan tính chính trị, mà ở đó đạo học và quyền thuật luôn tồn tại trong thế đối nghịch không khoan nhượng. Bi kịch lớn nhất của Lê Quý Đôn và cũng là của hàng ngàn kẻ sĩ đương thời nằm ở chỗ có đủ thông minh để nhìn thấy vấn đề của đất nước nhưng không đủ quyền lực để giải quyết, đủ kiến thức để đề xuất cải cách nhưng không đủ thế lực để thực thi. Họ tỉnh táo nhận ra những bất ổn của thời cuộc, nhưng lại bất lực trong việc thay đổi cục diện. Sự giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực, giữa hoài bão và hạn chế khiến họ trở thành những “kẻ mộng du giữa ban ngày”. Câu chuyện về Lê Quý Đôn không chỉ là câu chuyện về một cá nhân, mà là bi kịch tập thể của giới trí thức trong thời kỳ chuyển giao quyền lực. Nó đặt ra câu hỏi muôn thuở về vai trò kẻ sĩ giữa thời loạn: liệu họ có thể giữ được đạo làm người mà không đánh mất hoài bão? Liệu họ có thể dung hòa giữa lý tưởng và thực tế mà không đánh mất chính mình?


Dưới lăng kính duy vật lịch sử, Lê Quý Đôn hiện lên như một bản thể đứt gãy giữa những mâu thuẫn giai cấp không thể hóa giải. Xuất thân từ tầng lớp địa chủ tiểu tư sản, ông mang trong mình di truyền ý thức hệ của giai cấp thống trị nhưng lại sở hữu tư duy cải cách vượt thời đại. Chính sự giằng xé nội tại này đã biến ông thành người “nửa tỉnh nửa mê”, đủ sáng suốt để nhìn thấu những uẩn khuất của trật tự cũ nhưng lại bị trói buộc bởi chính những giá trị mà ông tìm cách cải biến. Trong các trước tác của mình, Lê Quý Đôn phơi bày không thương tiếc những bất công xã hội và nỗi khổ của dân chúng, nhưng những giải pháp ông đưa ra vẫn loanh quanh trong cái vòng luẩn quẩn của cải lương phong kiến. Ông nhìn thấy căn bệnh, chẩn đoán đúng triệu chứng, nhưng không thể kê đơn thuốc triệt để vì bản thân ông cũng là một tế bào trong cơ thể đang giày vò ấy.


Những đề xuất cải cách của Lê Quý Đôn về thuế khóa, đồn điền hay pháp chế thực chất là những nỗ lực tuyệt vọng để hàn gắn một hệ thống đã thoái trào từ gốc rễ. Chúng phản ánh tầm nhìn của một trí thức nhạy bén với yêu cầu phát triển của xã hội, nhưng đồng thời bị chính xã hội ấy phủ nhận những đóng góp tân tiến. Cuộc đấu tranh giữa Lê Quý Đôn và các thế lực bảo thủ không đơn thuần là xung đột cá nhân, mà là sự va chạm giữa hai xu hướng tất yếu của lịch sử. Một bên là nhu cầu cải cách để sinh tồn, một bên là ý chí bảo thủ để duy trì đặc quyền.


Lê Quý Đôn tồn tại trong lịch sử như một bản hợp xướng của những nghịch lý. Một học giả uyên bác nhưng lại dấn thân vào chốn quan trường đầy rẫy hiểm nguy. Một nhà cải cách tiến bộ nhưng phải vận hành trong khuôn khổ của chế độ quân quyền. Một trí thức có tầm nhìn toàn cầu nhưng bị giới hạn trong không gian chính trị chật hẹp. Một người tận tụy với đất nước nhưng luôn bị nghi ngờ và công kích.


HẬU SINH CẢM KHÁI


Song, cũng như bao kiếp người trong thế sự. Tựa như một ngọn nến đã đến hồi quá vãng, Lê Quý Đôn rồi cũng bước vào cuộc hồi quy về lòng đất mẹ. Ở đó thân thể tan vào đất, hơi thở trả về hư không, mà tinh anh thì lưu lại trong từng trang sách, từng ý niệm, từng nhịp đập của văn hóa dân tộc. Dẫu trăm năm nhân thế như mây nổi, thì một kiếp nhân sinh của vị danh nhân họ Lê cũng đủ gieo hạt vào lòng muôn thế hệ. Sự ra đi của bậc danh sĩ như một lần cởi áo trần hoàn, trở về cùng dòng suối vô thanh của vĩnh cửu.


Ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (1784), trời Nam chợt khóc, đất Việt bỗng sầu, quan lớn Lê Quý Đôn đã về chốn vĩnh hằng. Ấy là ngày nước Nam mất đi một ngôi sao sáng nhất trên bầu trời học thuật, kẻ sĩ mất đi một bậc thầy, đạo học mất đi một cây đại thụ tỏa bóng che rợp cả một thời đại. Trong nỗi đau thương vô hạn, môn sinh Tồn Am Bùi Huy Bích - một trong những học trò xuất sắc nhất của cụ - đã thay mặt các môn sinh dâng lên bài văn tế khóc thầy, mà đến nay mỗi lần đọc lại vẫn khiến hậu thế rơi lệ. Trong ấy có đoạn: “Than ôi! Thông minh nhất đời, đọc rộng hết các sách, soạn ra văn chương đủ lưu hành ở đời và truyền lại về sau. Nước ta một, hai trăm năm nay, mới lại có một người như Thầy”[12]. Lời ai điếu ấy không chỉ là tiếng khóc của người học trò khóc thầy, mà còn là tiếng lòng của cả một thế hệ thức giả trước sự ra đi của một bậc kỳ tài. Phải chăng, cái chết của cụ Lê không chỉ là mất mát của riêng môn đồ, mà là nỗi trống vắng của cả nền học thuật nước nhà.


Cũng vì cái tài học rộng hiểu sâu của cụ Lê Quý Đôn mà trong dân gian vùng Đông Bắc sông Hồng, nhất là quanh núi Yên Tử linh thiêng, truyền nhau một giai thoại thật đặc sắc. Người ta bảo rằng cụ Lê chính là hiện thân của thiền sư Chân Nguyên - vị cao tăng đức độ đời Lê trung hưng. Kể lại rằng thiền sư Chân Nguyên viên tịch vào năm Bính Ngọ (1726) thì cũng chính năm ấy, cụ Lê Quý Đôn chào đời. Sự trùng hợp diệu kỳ ấy khiến người đời tin rằng linh hồn của vị thiền sư đã đầu thai thành bậc kỳ tài họ Lê, để tiếp tục con đường hoằng dương đạo pháp và văn hóa nước nhà.


Quả thực, nếu xét cho kỹ thì thấy thiền sư Chân Nguyên và cụ Lê Quý Đôn có nhiều nét tương đồng lạ thường. Cả hai đều là những bậc thức giả uyên uyên, thông hiểu cả Nho giáo lẫn Phật giáo. Cụ Lê thì “bác cực quần thư”, còn thiền sư Chân Nguyên thì thông hiểu tam tạng kinh điển. Cả hai đều để lại sự nghiệp trước tác đồ sộ, góp phần làm rạng danh nền văn hóa Đại Việt. Cái tích truyền này không chỉ thể hiện lòng ngưỡng mộ của dân chúng đối với cụ Lê, mà còn cho thấy cái nhìn sâu sắc của tiền nhân về mối liên hệ giữa Nho giáo và Phật giáo trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Người xưa quan niệm rằng những bậc chân tu hay hiền nho đều là hiện thân của trí tuệ và đạo đức, dù mang hình thức nào cũng đều vì lợi ích của chúng sinh.


Ấy mới hay, trong tâm thức dân gian, hình ảnh cụ Lê Quý Đôn không chỉ là một đại quan, một học giả, mà còn mang dáng dấp của một bậc chân nhân tái thế. Sự học của cụ không chỉ là tri thức thế tục, mà còn thấm đẫm tính từ bi và trí huệ của đạo Phật.


NGHỊCH CẢNH HIỆN SINH


Danh sĩ Lê Quý Đôn không chỉ là một hiện tượng học thuật kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ XVIII mà còn là một trường hợp mang tính biểu tượng cho những khủng hoảng hiện sinh của người trí thức trong một xã hội đầy rẫy nghịch lý. Cuộc đời và sự nghiệp của ông phản ánh sự giằng xé giữa khát vọng tự do cá nhân và những ràng buộc của hệ thống, giữa bản chất học giả thuần túy và “vai diễn” quan chức.


Suốt cuộc đời mình, Lê Quý Đôn buộc phải duy trì hai thế giới tồn tại song song. Ở tầng thứ nhất, ông đóng vai trò một quan chức trung thành dưới trướng chúa Trịnh. Trong vai diễn xã hội này, ông tuân thủ mọi quy tắc của bộ máy quan liêu, thực thi những mệnh lệnh đôi khi trái với lương tâm, và chấp nhận tham gia vào trò chơi quyền lực đầy rẫy toan tính. Đây là sự tồn tại “vì người khác” (being-for-others), nơi ông để xã hội định nghĩa mình thông qua các vai trò và kỳ vọng. Ở tầng thứ hai, ông sống với “cái tôi học giả” đích thực, một trí thức say mê nghiên cứu, khao khát chân lý và mong muốn cống hiến cho sự phát triển của tri thức. Trong không gian này, ông được là chính mình, một tư tưởng gia độc lập, một người suy tư về vận mệnh dân tộc. Đây là sự tồn tại “vì chính mình” (being-for-itself), nơi ông thực hiện tự do lựa chọn và khẳng định bản sắc cá nhân.


Ở cuộc đời mình, có lẽ Lê Quý Đôn đã không ít lần rơi vào tình trạng tha hóa (alienation) sâu sắc khi ông trở thành “người xa lạ với chính mình” (self-estrangement). Phải thực thi những chính sách hà khắc với dân chúng, khi phải im lặng trước những bất công mà ông nhìn thấy rõ, ông cảm nhận sâu sắc sự xa lạ với chính những hành động của mình. Sự tha hóa này dẫn đến cảm giác “buồn nôn hiện sinh” (existential nausea), đây nỗi chán chường và cảm giác vô nghĩa khi phải duy trì vai diễn xã hội ngày này qua ngày khác. Như Albert Camus từng mô tả về Sisyphus, Lê Quý Đôn cũng giống như người hàng ngày lăn tảng đá lên đỉnh núi chỉ để thấy nó rơi xuống. Và với Lê Quý Đôn, những nỗ lực cải cách luôn thất bại trước sự cứng nhắc hay bè phái quyền lực của của hệ thống, khiến nỗ lực trở nên vô nghĩa.


Đứng trước nghịch lý của tự do hiện sinh, Lê Quý Đôn phải đối mặt với những lựa chọn đầy khó khăn. Về lý thuyết, ông có tự do để lựa chọn từ chức, phản kháng, hoặc tiếp tục tuân thủ. Nhưng trong thực tế ông bị giới hạn bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, một xã hội phong kiến không cho phép những lựa chọn triệt để được diễn ra. Ông đã chọn cách “sống trong dối trá” (bad faith), tự thuyết phục mình rằng việc duy trì vai diễn quan chức là cần thiết để có thể thực hiện những thay đổi từ bên trong. Cho đến khi Lê Quý Đôn nhận ra tính tạm thời của mọi vai diễn xã hội, di sản học thuật đồ sộ của ông có thể được xem như nỗ lực vượt lên sự hữu hạn của kiếp người thông qua việc sáng tạo và lưu truyền kinh sách. Hàng loạt tác phẩm như Phủ Biên Tạp Lục, Vân Đài Loại Ngữ, Đại Việt Thông Sử… thể hiện dự phóng, hệ thống hóa tri thức, khảo sát thực địa, vượt ra ngoài khuôn mẫu sao chép kinh điển. Đây là cách ông đối diện với “lo âu hiện sinh” (angst) về sự vô nghĩa và cái chết.


Suy cho cùng, Lê Quý Đôn như một hình mẫu phức tạp của khủng hoảng hiện sinh trong bối cảnh phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII. Ông không chỉ vật lộn với những thách thức chính trị và xã hội mà còn đối mặt với những vấn đề nền tảng của tồn tại: tự do, trách nhiệm, ý nghĩa, và cái chết. Sự phân chia thành hai tầng tồn tại không chỉ là chiến lược sinh tồn, mà còn là biểu hiện của nỗ lực duy trì nhân tính trong một thế giới nhiễu loạn.


Cuộc đời Lê Quý Đôn mở ra những suy tư thẳm sâu về bản chất của sự tồn tại đích thực, liệu con người có thể giữ được nhân cách nguyên vẹn khi buộc phải thỏa hiệp với những nghịch lý của thời đại? Ông như biểu tượng cho cuộc vật lộn giữa lý tưởng và hiện thực, giữa khát vọng tự do tri thức và những ràng buộc của hệ thống quyền lực. Ngay cả một trí tuệ vĩ đại như ông cũng không thể thoát khỏi những khủng hoảng hiện sinh, những day dứt về thân phận làm người, về giá trị của sự lựa chọn và về ranh giới mong manh giữa thích nghi và tha hóa. Di sản của ông, vì thế, không chỉ nằm ở những công trình học thuật đồ sộ mà còn ở những trăn trở nhân sinh vượt thời đại: Liệu chúng ta dám sống thật với chính mình khi đối diện với những sức ép của xã hội? Liệu có thể giữ được ngọn lửa lương tri khi buộc phải sống trong những hoàn cảnh phi bản tính? Phải chăng, sự vĩ đại thực sự của con người không nằm ở khả năng tránh né những nghịch cảnh, mà ở cách chúng ta đối diện với những mâu thuẫn không lối thoát mà vẫn tìm ra ý nghĩa để tồn tại và cống hiến.


Cuộc đời danh sĩ Lê Quý Đôn nhắc nhở chúng ta rằng, hành trình thực hiện lý tưởng sống không bao giờ là con đường bằng phẳng, mà là cuộc vật lộn không ngừng với những nghịch lý của cuộc tồn sinh - nơi mỗi lựa chọn đều phải trả giá, và mỗi sự thỏa hiệp đều để lại vết sẹo trong tâm hồn.


Chúng con xin kính cẩn nghiêng mình bộc bạch đôi dòng tâm tư về danh sĩ đại thần Lê Quý Đôn. Chút thiển học khô khan của chúng con chưa đủ bút lực vẽ nên thần khí của tiên hiền thuở trước, thành thử kính mong quí thầy bạn xa gần chỉ biểu thêm. Ví bằng có điều chi sơ suất trong lời lẽ, kính xin các bậc tiền bối rộng lòng nhắc nhở. Bởi trong tâm khảm của mình, chúng con viết ra không ngoài mục đích tỏ lòng tôn kính và mong muốn học hỏi tiên hiền ngày trước.

Nay kính!

Vĩnh Long, ngày 24 tháng 8 năm 2025

Trúc Lan Thiện Trí cẩn bút.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Đăng Thục (1998), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, t.6, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh.

[2] Nguyễn Thế Long (2005), Bang giao Đại Việt, t.3, Nxb Văn hóa Thông tin, Tp Hồ Chí Minh.

[3] Lê Quý Đôn (1995), Vân Đài Loại Ngữ, t.1, Tạ Quang Phát dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Tp Hồ Chí Minh.

[4] Lê Quý Đôn (2019), Quế Đường thi tập, Trần Thị Băng Thanh dịch và khảo đính, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

[5] Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

[6] Lê Quý Đôn (1995), Quần thư khảo biện, Trần Văn Quyền dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[7] Nguyễn Tài Thư chủ biên (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, t.1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[8] Bùi Huy Bích (1957), Hoàng Việt thi văn tuyển, nhóm Lê Quý Đôn trích dịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

[8] Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Nôm Preseavation Foundation. Liên kết.


[1] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 1983, trang 81. Toàn văn trích lục [欲 求 事 跡 於 煨 烬 之 餘 難 免 是 非 於亥 豕 之 辨 - Dục cầu sự tích ư ổi tẫn chi dư, nan miễn thị phi ư “hợi - thỉ” chi biện]. Link

[2] Hoàng Việt Thi Văn Tuyển, NXB Văn Hóa. Hà Nội, năm 1958, trang 152.

[3]  Tham tụng: chức quan Tể tướng.

[4]  Bồi tụng: chức quan phó Tể tướng.

[5] Tháng tư năm Quý Tị (1773), Lê Quý Đôn được thăng chức Bồi tụng trong phủ chúa. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XLIV, NXB Giáo dục Hà Nội, năm 1998, trang 927 chép rằng: “Trước kia, Trịnh Sâm ở Lượng Phủ, Huy Đĩnh rất được Sâm yêu, Quý Đôn lén lút giao kết chặt chẽ, Huy Đĩnh dắt díu Quý Đôn cùng làm việc, Quý Đôn lại càng thân mật với Huy Đĩnh).

[6] Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XLV, NXB Giáo dục Hà Nội, năm 1998, trang 951.

[7] Thư Kinh Diễn Nghĩa, Lê Quý Đôn, NXB Tp. Hồ Chí Minh, năm 1993, trang 60.

[8] Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - quyển XLV, NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1998, trang 945.

[9] Khâm Định Việt sử Thông giám Cương Mục, quyển XLIV, NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1998, trang 937.

[10] Khâm Định Việt sử Thông giám Cương Mục, quyển XLIV, NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1998, trang 937.

[11] Hàn Phi Tử, dịch giả Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi, NXB Hồng Đức, Hà Nội, năm 2021, trang 169.

[12] Bùi Huy Bích (1957), Hoàng Việt thi văn tuyển, nhóm Lê Quý Đôn trích dịch, trang 143, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

Bình luận


bottom of page