top of page

HÀNH ĐẠO BẤT HÀNH QUYỀN – CẦM QUYỀN BẤT TIẾM VỊ: Một hiện tượng trị quốc thời Vua Lê – Chúa Trịnh

19 thg 7, 2025
34 phút đọc

Quý bạn thương mến,

Trong tự nhiên, mặt trời mọc ở đằng Đông lặn về đằng Tây, mặt trăng tròn rồi lại khuyết, nước xuôi dòng theo thế đất mà chưa từng cưỡng nghịch. Không một loài cây nào đòi che kín cả bầu trời, không một dòng sông nào vỗ ngực xưng mình là biển cả. Lẽ vận hành ấy của trời đất chẳng chỉ là sự sắp đặt ngẫu nhiên mà còn là một biểu hiện sâu xa của Đạo, của trật tự và sự hài hòa với đại thể. Như Kinh Dịch viết: “Quân tử dĩ thành đức vi bản, thành mệnh vi đạo” ­- Người quân tử lấy việc hoàn thiện đức hạnh làm gốc, thuận theo mệnh trời làm đạo. Trong vũ trụ, quẻ Càn tượng trưng cho Trời, quẻ Khôn tượng trưng cho Đất. Càn cương kiện mà không loạn, Khôn nhu thuận mà không hèn. Trời đất giao hòa thì sinh ra muôn loài vạn vật.


Từ lẽ ấy, người xưa đã nhận ra bài học lớn cho việc trị quốc và tu thân. Kẻ “hành đạo bất hành quyền”, người “cầm quyền bất tiếm vị”. Đó không chỉ là lời khuôn vàng thước ngọc nằm trong sách vở mà còn là một hiện tượng chính trị đặc dị, đượm màu minh triết, thấp thoáng bóng dáng Hồng phạm cửu trù trong cổ thư Trung Hoa. Giữa lúc trăm họ chưa yên, xã tắc chưa định, có những người không đội mão Vua mà lo việc nước, không giữ ấn quyền mà gìn mệnh trời. Nhưng cũng lắm phen, vì bất phân đạo quyền mà triều nghi nghiêng ngửa, quốc vận mờ phai.


Chính trong dòng lịch sử đầy biến động ấy, kẻ hậu học lặng lẽ với chữ nghĩa, lòng ngưỡng mộ cổ đạo, vô tình đọc được sử nhà vào thời Vua Lê - Chúa Trịnh. Một thời kỳ từng dậy sóng tranh luận, đến nay vẫn chưa nguôi trong lòng học giới và hậu thế. Nay xin cúi mình trước nghĩa lớn mà mạo muội viết đôi dòng tư lự về thuở ấy. Mong mỏi cùng tri âm soi xét lại đạo trị quốc xưa để thấy trong tầng sâu lịch sử có khi quyền lực không phải là mũi nhọn mà là sự nhẫn nại của nước thấm vào đá, là cái dừng của bậc chân nhân giữa cõi trần.


Đến nay lòng còn vương mùi mực cũ, dạ còn vọng tiếng sử xanh, men theo dấu rêu phong của lịch triều mà lần dở những trang sách cũ từ thế kỷ XVI đến XVIII, nước Nam ta bước vào một thời đoạn đầy biến động mà hậu thế quen gọi là thời Vua Lê - Chúa Trịnh. Ấy là khi ngai vàng có chủ nhưng quyền bính lại thuộc vào tay người khác, khi thiên tử toạ ngôi quốc chủ nhưng thực quyền lại rơi vào tay chư hầu. Khởi thuỷ vào năm Đinh Hợi 1527, Mạc Thái Tổ Mạc Đăng Dung đứng lên đánh dẹp các thế lực cát cứ, đối đầu triều đình, loại bỏ ảnh hưởng các lực lược trung thành với nhà Lê ở Thanh Hóa và lập ra triều đại nhà Mạc. Lúc bây giờ dòng Lê tưởng chừng tuyệt diệt, nhưng trời chưa đoạn nghĩa, dân chưa quên gốc. Năm Quý Tỵ 1533, dưới sự phò trợ của An Thanh hầu Nguyễn Kim, Lê Trang Tông được suy tôn làm Vua nối lại thiên mạch triều đại nhà Lê, mở ra thời kỳ Lê Trung Hưng. Song Nguyễn Kim yểu mệnh, quyền bính chưa yên đã phải ký thác cho con rể là Trịnh Kiểm. Từ đó, quyền lực quốc gia lần hồi rơi vào tay họ Trịnh, truyền nối nhiều đời lập nên thể chế “song trùng quyền lực” - Vua thì trị quốc trên danh nghĩa, Chúa lại cầm quyền trong thực tế. Suốt hơn hai thế kỷ, các Chúa Trịnh dựng nên cơ nghiệp Đàng Ngoài, đối địch với các Chúa Nguyễn Đàng Trong tạo nên cục diện phân tranh khốc liệt kéo dài gần nửa thế kỷ. Đất nước chia đôi, lòng người phân li, nhưng cũng trong loạn lạc mà phát sinh kỳ nhân, chí sĩ. Cũng trong bể dâu mà đất nước dưới bàn tay họ Trịnh vẫn dựng được thế ổn định trị bình, giữ cho xã tắc không rơi vào hỗn loạn.


Với tinh thần đọc sử không chỉ biết về chuyện cũ mà là để soi mình vào tấm gương của tiền nhân, hầu nhận được điều hay lẽ dở đặng học hỏi chớ chẳng lấy lăng kính ngày nay luận lấy đúng sai của người xưa. Vậy nên chúng tôi đem lòng khảo cứu về sự nghiệp họ Trịnh, không nhằm tô hoa điểm phấn cho một triều đại mang nhiều uẩn khúc mà cốt là để nhận diện một sự thật lịch sử rằng: Nếu không có tài, làm sao các Chúa Trịnh đủ sức giữ cho ngai vàng nhà Lê khỏi bờ nghiêng đổ? Nếu không có đức, làm sao có thể thu phục được bao bậc văn thần võ tướng quy tụ dưới cờ như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà Bác học Lê Quý Đôn, Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời Nhiệm, Tể tướng Phạm Công Trứ, Thượng thư Nguyễn Công Hãng...? Vậy nên, việc tìm tòi khảo cứu về sự nghiệp các Chúa Trịnh dưới thời Lê Trung Hưng không cốt ở việc khoác gấm thêu hoa cho một triều đại đã qua, mà là để lắng nghe tiếng thổn thức của thời gian cất lên từ những âm vang chưa tắt của lớp lớp tiền nhân đã từng đứng dậy giữa cơn ly loạn, gánh lấy trọng trách giang sơn, giữ cho xã tắc vững bền.


Từ buổi đầu khai nghiệp, các Chúa Trịnh đã từng là điểm tựa vững vàng cho nhà Lê giữa lúc trong thì ly loạn, ngoài thì giặc giã. Suối 249 năm trường, tính từ buổi Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm khai cơ dựng nghiệp, trải 12 đời Chúa nối nhau chấp chính bên 16 đời Vua Lê thời Trung Hưng đã lưu lại muôn vàn dấu ấn trong sử sách nước Nam ta. Ấy là những khuôn phép trị quốc, đạo lý xử thế đậm màu Nho phong mà các bậc túc nho ngợi ca là “khuôn vàng thước ngọc” cho kẻ sĩ soi mình. Lại có cả những công trình kiến trúc văn hoá đậm dấu quốc khí như Phủ Chúa giữa kinh kỳ Thăng Long nguy nga một thuở, Nghè Vẹt uy linh ở Thanh Hóa, chùa Tây Phương cổ kính hay đền thờ Tiên Thiên Quốc Thánh Mẫu Nguyễn Thị Ngọc Diệm linh thiêng giữa mảnh đất xứ Thanh. Những câu chuyện như Trịnh Tùng bình Mạc phục Lê, Trịnh Căn chỉnh đốn triều cương, hay cuộc phân tranh giữa Trịnh Giang và Trịnh Doanh cũng đều phản ánh một thời đại thăng trầm mà mỗi dấu chân quyền lực đều để lại dư vang trong lòng dân gian. Bởi vậy phủ Chúa trị vì gần 300 năm, dù đến hồi mạt vận có vài đời Chúa buông tuồng, hoang lạc thì làm sao có thể xoá mờ công lao trời biển của tiền nhân? Chẳng thể vì một vết gợn trên mặt hồ mà phủ nhận cả khúc trường giang rực rỡ dưới ánh trăng vàng vậy.


GIAO HIẾU TÙNG HÒA


Trước hết, muốn giữ yên xã tắc chẳng thể chỉ cậy vào gươm giáo hay đức trị, mà còn cần đạo bang giao làm đòn bẩy giữ thế cân bằng. Nhà Chúa nếu chỉ biết trấn thủ cõi biên, coi nhẹ thế giới bốn phương, ắt sẽ lâm vào thế cô lập, mất đi lợi thế chuyển xoay thời cuộc. Nhất là trong giai đoạn nước nhà suy vong rồi lại phục hưng thì việc bang giao càng trở nên hệ trọng, là nhịp cầu vừa giữ quốc thể, vừa mưu lợi ích lâu dài cho dân tộc. Thuở ấy, khi họ Lê vừa phục quốc sau cuộc tranh hùng với nhà Mạc, triều Minh ở phương Bắc vẫn xem họ Mạc là chính thống ở An Nam. Tình thế hiểm nghèo, nếu không khéo xử thì non sông lại một phen chao đảo. Trước tình hình đó, Chúa Trịnh Tùng đã thể hiện tầm nhìn viễn kiến, cử phái bộ do cụ Phùng Khắc Khoan lúc bấy giờ đã kề tuổi 70 làm Chánh sứ sang nhà Minh vào năm Bính Thìn 1596, cùng hai thân vương là Lê Ngành và Lê Hựu. Sứ đoàn mang theo thư tín, sắc ấn cùng lễ vật trân trọng tiến lên ải Nam Quan để cầu triều đình phương Bắc bắt mối giao hảo với nhà Lê. Đến khi Vua Lê Thế Tông đích thân lên biên giới dự hội khám, nhưng bị quan Minh viện cớ thoái thác, tìm cách không gặp.


Cuộc đi sứ tưởng đã rơi vào ngõ cụt, giữa nơi quan ải xa xăm, cụ Phùng đã dùng văn chương bắc nhịp giao hoà. Ông cảm tác bài thơ “Đinh Dậu phụng sứ thuật hoài” thể hiện tâm thế của sứ thần mang vận mệnh quốc gia trên vai, cảm hóa lòng người nơi quan ải bằng sách lược ngoại giao “ngôn nhã, ý uyên”. Sau khi đến Yên Kinh, ông dùng văn chương đối đáp, kết mối giao hảo với Thượng thư Bộ Lại Trương Vị. Biết tin hoàng đế nhà Minh khánh thọ bát tuần, ông kịp thời dâng lên tập thơ “Vạn Thọ Thánh Tiết” gồm 31 bài, khiến thiên tử cảm phục, tán thưởng rằng: “Hiền tài hà địa vô chi. Trẫm lãm thi tập, cụ khiến Phùng Khắc Khoan chi trung khổn, thủ khả thâm gia quốc mĩ, tức mệnh hạ khắc bản ban thần thiên hạ” (Hiền tài đất nào chẳng có. Trẫm xem tập thơ, thấy rõ Phùng Khắc Khoan là người trung hậu, thật đáng ngợi khen, mệnh lệnh khắc bản in ngay để ban hành trong thiên hạ)[1]. Từ đó, con đường bang giao dần được khai thông. Cũng từ cây bút của Phùng tiên sinh, danh phận chính thống của nhà Lê Trung Hưng từng bước xác lập trong ánh mắt thiên triều. Những nỗ lực ấy về sau dẫn đến sự kiện năm 1647 hoàng đế Trung Hoa phong cho Vua Lê Thần Tông, lúc này là Thái thượng hoàng làm An Nam Quốc Vương. Năm 1651, ban sắc phong cho Chúa Trịnh tước hiệu Phó Quốc Vương, một sự kiện chưa từng có tiền lệ trong bang giao giữa Đại Việt và Trung Hoa. Tước hiệu này biểu thị rõ ràng vai trò “phò Lê nhiếp chính” của họ Trịnh trong cục diện chính trị Đàng Ngoài. Triều đình Mãn Thanh thuận phong cho Chúa Trịnh danh hiệu ấy chẳng những xác nhận vai trò chính trị tối cao của Chúa Trịnh trong nội trị Đại Việt, mà còn gián tiếp công nhận thể chế song trùng quyền lực “Lê tồn Trịnh trị” vốn đã định hình từ buổi đầu Trung Hưng.


Đến năm 1667, Vua Khang Hi nhà Thanh sai sứ sang phong cho Vua Lê làm An nam Quốc Vương. Năm 1683, tiếp tục phong Vua Lê Hy Tông làm An Nam Quốc Vương. Những lần phong vương ấy tuy là hình thức, song thực chất lại là chứng thực sự tồn tại độc lập của Đại Việt dưới một thể chế riêng biệt, có Vua, có Chúa, có văn hiến, có thế lực. Như lời cổ nhân từng nói “Tòng lai bắc quốc xưng thiên tử, nam quốc sơn hà tự hữu vương” (Từ xưa bắc quốc xưng thiên tử, song non sông nước Nam vẫn có Vua riêng).


Đặc biệt đến năm 1719, nhà Thanh sai Đặng Đình Triết sang phong vương, đòi Vua Lê Dụ Tông phải ba quỳ chín vái để thụ phong. Xét trong các triều đại Trung Hoa từ xưa đến nay, thì nhà Thanh xứng danh bậc nhất về sự nghiêm mật lễ nghi. Phàm việc lớn nhỏ trong triều, từ việc thượng triều, ban yến, sắc phong cho đến ăn mặc, đi đứng, đều có điển chương, quy phạm rõ ràng, không cho sai một mảy. Theo Lễ Chí (禮志), phần Phiên Quốc Lễ (藩國禮) trong chương Tân Lễ (賓禮) thì “[…] Từ khi quốc gia kiến tạo đến nay, cả đức lẫn uy đều lan rộng, thanh giáo tràn tới nên không đâu là không đến triều đình… chiếu theo sách cũ cũng đều coi như nhau.” Cũng theo Phiên Quốc Lễ, Thanh triều qui định rằng việc sách phong cho phiên thuộc thì sẽ sai đại thần mang “tín ước”(信约) sang, khi [sứ thần] đến biên giới của nước đó sẽ kiểm tra (验视) tín ước cùng chức danh của đại thần phụng sai cùng nghi lễ sách phong phi báo cho thủ lãnh [quốc trưởng] nước đó. Quốc trưởng nước kia sẽ ra tới nơi cách năm dặm, xuống ngựa quì ở bên phải đường đi, đợi khi chế sách đi qua sẽ cưỡi ngựa tuỳ hành”[2].


“Sứ thần cùng đi đến phủ đệ của thủ lãnh kia, bày hương án, sứ thần bưng chế sắc để trên hương án, thủ lãnh làm lễ tam quỵ cửu khấu [ba lần quì, chín lần rập đầu], nghi độc quan [viên quan được chỉ định đọc tờ sắc] sẽ đọc tờ chế phong, thủ lãnh kia lại làm lễ tam quị cửu khấu lần nữa, sau đó quay qua cùng sứ thần hai người làm lễ nhị quị lục khấu [hai lần quì, sáu lần rập đầu], ấy là hoàn tất nghi thức sách phong”[3].


Giữa muôn vàn lề luật nghiêm mật, Chúa Trịnh Cương chẳng chịu cúi đầu, một lòng giữ tiết tháo nước Nam. Lúc ấy Chúa kiên quyết tôn trọng quốc thể, dâng thư không thuận ý việc Vua Lê phải quỳ lại. Bấy giờ xứ thần Đặng Đinh Triết phẫn nộ gượng ép nhưng nhà Chúa vẫn cứ bác bỏ. Sau nhiều phen trao đổi thư từ, nghị luận căng thẳng, cuối cùng sứ thần Bắc quốc cũng đành làm lễ phong Quốc Vương cho Vua Lê mà không phải hành lễ chư hầu “tam quỵ cửu khấu”. Như vậy để tỏ rõ tôn chỉ Chúa Trịnh trong đạo trị quốc, có hai điều không thể xem nhẹ: một là cương thổ, hai là quốc thể. Cương thổ là hình hài của đất nước, còn quốc thể là linh hồn của Tổ quốc. Có giữ được quốc thể thì mới khiến người ngoài kính sợ, người trong tin yêu. Một khi quốc thể bị xem nhẹ, thì dù đất còn mà lòng người đã mất.


THỐNG NHẤT CƯƠNG THỔ


Do vậy từ buổi đầu dựng nước, khi non sông còn man mác khói sương, đất nước ta đã bao phen trải qua loạn lạc, chinh chiến. Cốt là để gìn giữ từng tấc đất của tổ tiên để lại do vậy trong việc trị quốc an dân, đại sự bậc nhất của bậc quân chủ là gìn giữ mảnh đất của ông cha. Từ thời Lý, Trần đến triều đại nhà Lê, việc đắp đê, dựng đồn, lập thành, cử người trấn thủ biên viễn đều được coi trọng. Năm xưa danh tướng Lý Thường Kiệt ngăn giặc phương Bắc từ sông Như Nguyệt, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn quân dẹp nạn Mông - Nguyên, Lê Thái Tổ Lê Lợi dấy cờ nghĩa xua “quân cuồng Minh” đều là minh chứng cho chí lớn giữ nước của tiền nhân. Sang thời Trung hưng, họ Trịnh thay mặt nhà Lê chấp chính, tiếp tục nối chí tiên triều, đặt trọng tâm vào việc giữ gìn cương vực quốc gia.


Ảnh 1: Bản đồ vùng Tụ Long trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc năm 1902. Tác giả: Jean-Baptiste Friquegnon (1858-1934) và Camille Guy (1860-1829)
Ảnh 1: Bản đồ vùng Tụ Long trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc năm 1902. Tác giả: Jean-Baptiste Friquegnon (1858-1934) và Camille Guy (1860-1829)

Đến năm 1728, chính quyền Lê - Trịnh đã bước tới một thắng lợi quan trọng, thương thuyết với nhà Thanh đòi lại mỏ đồng Tụ Long, một phần lãnh thổ nước ta ở phía Bắc. Ranh giới khi ấy được xác định bờ Bắc sông Đổ Chú (堵呪) thuộc nhà Thanh, còn bờ Nam sông ấy là của Đại Việt. Sông Đổ Chú ngày nay là sông Đại Lương Tử (大梁子河), một nhánh thượng nguồn của sông Chảy.


Tiên sinh Lê Quý Đôn trong Kiến Văn Tiểu Lục viết: “Châu Vị Xuyên tức là châu Bình Nguyên xưa, có 8 tổng 51 xã, duy Tụ Long là to hơn cả: có 24 thôn ấp, tập tục gọi thôn là làng. Địa thế xã này phía đông giáp xã Phấn Vũ (奮武) thuộc bản tổng, phía tây giáp phủ Khai Hóa Trung Quốc, phía nam giáp châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa, phía bắc giáp động Ngưu Dương Trung Quốc. Về mặt tây, lấy sông Đổ Chú để chia mốc giới với phủ Khai Hóa: Kể từ đầu ngọn sông, về phía đông ven sông, từ sông Đổ Chú đến làng Thác Ư (托於) giáp châu Thủy Vĩ, thuộc về địa phận Tụ Long. Về phía tây ven sông, từ làng Mã Bạch (馬白, hay Mã Bách 馬伯) đến làng Ma Cả Bô (Ma Cơ Pho) giáp châu Thủy Vĩ, thuộc về địa phận Khai Hóa. Núi Mã Yên (馬鞍山) ở làng Kỵ Mã xã Tụ Long cách xa với Trung Quốc. Một dải sông Đổ Chú chảy qua vụng Mã Bạch, chảy xuôi đến núi Mi (眉山), rồi hợp lưu với con sông nhỏ thuộc trấn Hưng Hóa nước ta, chảy xuống châu Thủy Vĩ. Lại một khe từ núi Mã Gia (馬茄山) chảy ven ngàn núi đến thôn Thác Ư thông với sông Tạ Mộng (謝夢), đây là chỗ nước ở Tụ Long, Hoàng Khê (黄谿), Thổ Khê (土谿) hợp lưu với nhau. Từ con khe này đến sông Đổ Chú cách nhau 150 dặm”[4].


Trước đây, theo sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của nhà bác học Phan Huy Chú ở đầu thế kỷ XIX viết: “Các đèo ải ở Vị Xuyên, Tụ Long, Bình Xứ, Phương Độ là những nơi chứa góp của cải, nguồn lợi của các đời đều do đó mà sinh ra”[5]. Nhưng vùng núi Tụ Long của nước ta đã bị mất về nhà Thanh. Thổ ti nhà Thanh đặt quan ải để đánh thuế, đất ở biên giới “nước ta mất đến 40 dặm”[6]. Sau cuộc thương thuyết giữa hai nước Đại Việt và Đại Thanh, việc phân định biên thùy tại vùng Tụ Long trở nên hệ trọng hơn bao giờ hết. Dưới triều Vua Lê Dụ Tông, Chúa Trịnh Cương vì lo nghĩ đến cương vực sơn xuyên, bèn sai sứ bộ gồm Tế tửu Nguyễn Công Thái và Thị lang bộ Hình Nguyễn Huy Nhuận đến dựng bia đá chủ quyền tại bờ sông Đổ Chú. Song cuộc hội khám khi ấy lại vướng phải âm mưu tráo trở của quan lại nhà Thanh. Họ lén chỉ vào một dòng sông khác ở phía nam mỏ Tụ Long, mà dối rằng: “Đây là Đổ Chú!”.  Song hai vị sứ thần nước Việt không dễ gì bị che mắt. Các ông đã chẳng ngại hiểm địa lam chướng, thân hành lặn lội vượt suối băng đèo, lần theo dấu vết mà xác định rõ vị trí sông Đổ Chú thực.


Sau này, sách Việt Nam Sử Lược của sử gia Trần Trọng Kim cũng viết: “Nước ta từ đời bấy giờ ở Tuyên Quang thì có mỏ đồng ở Tụ Long, mỏ bạc ở Nam Xương và ở Long Sinh”[7]. Nhận ra được tiềm năng địa vật, ngay sau khi khẳng định chủ quyền, chính quyền Lê - Trịnh đã thi hành chính sách tổ chức quy củ. Thiết lập xưởng thợ, mở chợ búa, dựng phường phố, biến vùng đất biên viễn thành nơi cơ bản ổn định và phát triển. Tụ Long ngày ấy trở về không chỉ là đất. Đó là niềm kiêu hãnh của một dân tộc biết giữ gìn cương vực, biết đưa ngọn cờ chính nghĩa đi qua hội nghị ngoại giao mà không đánh mất khí phách của mình giữa bao sóng gió đại cục.


KIẾN VÕ AN DÂN


Trong suốt 249 năm Vua Lê - Chúa Trịnh song trùng tồn tại, đất nước tuy chia đôi sơn hà, Nam – Bắc phân trị. Song bờ cõi vẫn một mối, giang sơn còn nguyên vẹn, suốt thời kỳ này Đàng Ngoài cũng không xảy ra bất kỳ cuộc tấn công xâm lược nào từ phương Bắc. Kinh thành Thăng Long thời ấy là pháo đài trung tâm của chính quyền Lê - Trịnh, trong ngoài kiên cố, quân đội chỉnh tề, kỷ cương phép tắc như thành đồng lũy sắt.


Theo sách Việt Nam sử lược của học giả Trần Trọng Kim chép: “Đời Vua Dụ Tông, Chúa Trịnh Cương cho mở trường võ học, đặt quan giáo thụ để dạy cho con cháu các quan vào học võ kinh chiến lược, cứ mỗi tháng một lần tiểu tập, ba tháng một lần đại tập. Mùa xuân mùa thu thì tập võ nghệ, mùa đông mùa hạ thì tập võ kinh. Lại đặt ra lệ 3 năm một lần thi võ. Thi thì đại khái là phải bắn cung, múa giáo, múa gươm, phi ngựa mà bắn cung và chạy bộ mà bắn cung, rồi sau cùng hỏi nghĩa sách để xét học lực, hỏi phương lược để xét tài năng. Năm Canh Thân (1740) Trịnh Doanh lập võ miếu, chính vị thì thờ Vũ Vương, Khương Thái Công, Tôn Võ Tử, Quản Tử... Ở đàng sau thì thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và lạo lập miếu riêng thời Quan Công. Cứ Xuân Thu hai kỳ tế lễ”[8].


Nhìn lại mới hay, các đời Chúa Trịnh chẳng những trọng dụng võ tướng, luyện binh trị quốc mà còn coi trọng việc bồi dưỡng võ công từ căn bản. Mở trường võ học là để rèn người có tài, lập Võ Miếu là để dưỡng người có tâm. Ấy không phải trọng võ đơn thuần, mà là đạo trị quốc lấy nhân - trí - dũng làm cội rễ. Nếu ngày nay có Học viện Quốc phòng đào tạo sĩ quan, tướng lĩnh giữ gìn biên cương bờ cõi, thì trường võ học cùng Võ Miếu thời Lê – Trịnh chính là tiền thân, là nền tảng tinh thần cho khoa quân sự Đại Việt.


Sức mạnh quân sự thời kỳ này còn nằm ở tiềm thức dân tộc, bởi lẽ võ học không chỉ là phép đánh giặc mà còn là sự hun đúc khí tiết, là nơi sức mạnh bắt đầu từ hồn thiêng sông núi, từ tâm thức “cây có cội, nước có nguồn”. Đây là bài học truyền thừa cho muôn đời, quốc gia hưng thịnh không chỉ nhờ văn minh mà còn cần võ uy, không chỉ nhờ trí tuệ mà phải có thực lực. Văn trị mà không vũ bị, khác nào gươm báu mà không mài, trị quốc mà không an dân.


Người xưa học võ không tách rời lễ nghĩa. Võ Miếu là chốn tôn nghiêm, thờ các bậc võ thánh không chỉ giỏi đánh trận mà còn có đức lớn, trí cao. Lập miếu mà tế lễ Xuân – Thu là cách để nhắc nhở kẻ học binh thư phải biết kính thánh hiền, lấy đạo làm gốc, lấy nghĩa làm đường. Cùng với Văn Miếu và Y Miếu, Võ Miếu trở thành một trong ba cột trụ thiêng liêng tượng trưng cho nền văn hiến Thăng Long xưa. Ấy là văn hiến Đại Việt vừa trọng đạo học, vừa trọng lòng nhân, vừa không quên sức mạnh bảo vệ non sông.


Một bước tiến lớn về mặt quân sự cũng khởi sắc vào thời kỳ này, xuất phát từ việc mở rộng thương mãi, chính quyền Lê - Trịnh đã nhanh chóng du nhập từ phương Tây vào nước ta dòng súng Hoả Mai. Theo sách Lôi Động Tinh Phi - Khảo Cứu Về Súng Đạn Người Việt rằng: “Súng đã có cò, cơ cấu điểm hoả, báng và hệ thống hỗ trợ ngắm cơ bản như súng trường hiện đại. Phương thức nạp thuốc súng và đạn chủ yếu là nạp từ nòng (nạp tiền)”[9]. Danh xưng loại súng này, theo sách chép “Hiệp Súng 挾銃/ Hiệp Thương 挾鏜 (nghĩa đen là Súng Cắp/ Súng Kẹp) dường như là tên gọi chính thức trong văn bản hành chính và tầng lớp tinh anh của Đàng Ngoài”[10]. Tên gọi tuy mộc mạc, song lại phản ánh sự phân loại trang bị rõ ràng trong hệ thống quân sự Đàng Ngoài lúc bấy giờ, súng Hoả Mai dần trở thành khí giới phổ thông trong tay binh lính và dân binh miền biên thùy.

 

Ảnh 2: Súng Giao Chỉ năm 1739. Tranh trong "Hoàng triều lễ khí đồ thức" (皇朝禮器圖式) đời Thanh.
Ảnh 2: Súng Giao Chỉ năm 1739. Tranh trong "Hoàng triều lễ khí đồ thức" (皇朝禮器圖式) đời Thanh.

Việc súng Hỏa Mai được du nhập và phát triển ở Đại Việt thời Lê – Trịnh không thuần ở bước tiến kỹ thuật, mà còn là dấu hiệu cho một tinh thần cởi mở với tri thức và công nghệ mới từ phương Tây. Khác với định kiến cho rằng xã hội phương Đông phong kiến luôn bảo thủ, triều đình Đàng Ngoài đã sớm nhận ra sức mạnh của súng ống, từ đó đưa vào tổ chức quân sự bài bản.


Giữa thế kỷ XVII, các Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã cho sử dụng hầu hết là súng của người phương Tây, trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn có đôi dòng “thu hết các súng tay và hoả khí của người Hòa Lan Tây Dương”[11]. Điều này cho thấy người Việt thời bấy giờ đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật hiện đại, đồng thời chủ động mở rộng tầm nhìn, học hỏi cả từ phương Tây lẫn phương Đông. Việc lựa chọn súng phương Tây để trang bị khí giới cũng phản ánh sự nhạy bén trong việc tiếp nhận những công cụ có tính tiện dụng và linh hoạt cao: “Cơ chế điểm hoà là điểm khiến Hiệp Súng ưu việt hơn so với Hoả Súng xưa. Mồi lửa (thường là sợi bấc cháy âm ỉ) được kẹp vào một cần hình móc câu. Khi siết cò, máy sẽ khiến đầu cần hạ xuống đúng đĩa mồi (một đĩa kim loại đựng thuốc mồi, có đục lỗ thông vào trong nòng). Thuốc mồi bị cháy sẽ kích hoạt liều phóng trong nòng, tống viên đạn ra. Các phần của máy cò thường được đúc bằng đồng”[12].


Từ một vùng đất từng quen với đao kiếm, cung nỏ, Đại Việt khi ấy đã bước vào kỷ nguyên của khí giới hiện đại với tâm thế chủ động, biết học hỏi mà không mất gốc, biết tiếp thu mà không đánh mất bản sắc. Chính điều ấy đã làm nên sự vững bền của quốc phòng nước nhà, không chỉ là sức mạnh từ quá khứ truyền thống mà còn là sự thích ứng với thời đại, biết dung nạp cái mới để bảo vệ cái cũ. Một tinh thần quân sự rất Việt Nam, rất thời sự cho cả hôm nay.


GIAO THƯƠNG TỨ HẢI


Lại cũng bởi Thăng Long – Kẻ Chợ là kinh đô muôn đời, nơi ngai vàng đặt giữa lòng trời Nam nên việc phát triển thương mãi chẳng thể để buông lơi phóng túng. Triều đình Lê - Trịnh từ thế kỷ XV đã sớm có chủ trương nghiêm ngặt, hạn chế người ngoại quốc lai vãng vào nội trấn đồng bằng và kinh thành, e ngại việc trà trộn, do thám hay làm loạn lòng dân. Bởi vậy mới đặt ra các bến cảng chuyên biệt, chỉ cho phép người phương xa đến buôn bán tại những nơi như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), Hội Triều (Thanh Hóa), Thống Lĩnh, Phú Lương (Thái Nguyên), Tam Kỳ (Tuyên Quang), Trúc Hoa[13]. Những nơi ấy là ranh giới kinh tế và cũng là lớp đệm an ninh giúp triều đình giữ vững phép tắc giữa thời nhiễu nhương, lại vẫn có thể mở mặt với thiên hạ bốn phương.


Mặc dù vậy, đến thế kỷ XVII, trước làn sóng thương thuyền ngày một tấp nập, chính quyền họ Trịnh buộc phải nới rộng cửa ngõ ngoại thương, song vẫn cẩn thận giữ lấy khuôn phép. Họ không cho người ngoại quốc tự tiện buôn bán, lập thương điếm trong lòng Thăng Long mà chọn Phố Hiến làm tiền cảng - một nơi vừa xa đủ để ngăn hiểm, vừa gần đủ để kiểm soát. Phố Hiến nằm ngay tả ngạn sông Nhị Hà, cách Thăng Long độ hơn năm mươi dặm, trở thành nơi dừng chân, trạm kiểm soát, bến đỗ và cũng là nơi cấp phép cho thương thuyền muốn vào kinh kỳ.


“Việc chọn phố Hiến cũng nằm trong chiến lược dài hạn của Chúa Trịnh, Phố Hiến nằm bên tả ngạn sông Hồng, cách Thăng Long về phía nam hơn 50km. Sông Hồng với lượng phù sa lớn và xói lở nhiều làm cho dòng sông có nhiều bãi ngầm không tiện cho sự giao thông của tàu thuyền lớn. Theo các nhà địa ký, đầu thế kỷ XVII – XVIII, từ biển đến Thăng Long, vùng từ Nhân Mục đến Mậu Dương là gờ sông tương đối cao (3-4m) so với các vùng lân cận (1-2m)”[14]. Phố Hiến nhờ vậy trở thành tụ điểm giao thương lý tưởng, vừa là nơi hội tụ của các thương nhân Tây – Đông, vừa là “cửa dưới” để triều đình trông coi, kiểm soát cánh cổng kinh thành. Mảnh đất ấy chẳng khác nào bức “bình phong thương mãi” của Thăng Long, mà cũng là nơi giao hội văn hóa bốn phương, từ người Hoa, người Nhật, cho đến Hà Lan, Bồ Đào Nha. “Vào thế kỷ XVIII, một số người Hoa lánh nạn xâm lược của quân Nguyên đã đến đây, lập ra làng Hoa Dương gồm các làng Lương Điền, Phương Cái, Mậu Dương sau này. Với những xóm làng tụ cư ngày càng đông, chợ và bến buôn bán cũng xuất hiện. Đến khi Hiến ty trấn Sơn Nam chọn làm trị sở thì vùng Phố Hiến trở thành một thị trấn có dinh thự, quan lại, quân lính, và số người buôn bán làm ăn quanh trị sở ngày càng đông”. Lòng đất Thăng Long khéo thay, biết mượn Phố Hiến làm nơi thu hút của cải nhân tài, mà vẫn giữ được nề nếp cung cấm, phép nước chẳng hề suy suyển.


Sự phồn thịnh của Phố Hiến dẫn đến truyền tụng trong dân gian câu “nhất Kinh Kỳ, nhì Phố Hiến”, không thể không kể đến tài cán ngoại giao của các Chúa Trịnh. Trong bức thư Chúa Trịnh Tráng gửi cho Nhật Bản có đoạn bày tỏ kết tình giao hảo và đặt nền móng giao thương. Bức An Nam quốc Thanh đô vương phó Giác Tàng thư 安 南 國 清 都 王 付 角 藏 書 viết: “Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương nước An Nam đã đứng ra kiến lập đất nước, khôi phục cơ đồ, chấn hưng quốc vận. Việc xây đắp bờ cõi, chỉnh đốn kinh kỳ, phủ lị khắp bốn phương châu quận đều được chăm lo vẹn toàn. Các mối bang giao hòa hiếu được thiết lập bền chặt, phúc trạch ân nghĩa lan tỏa khắp nơi. Chính sự lấy nhân đức làm gốc, dung hợp để thành đại cuộc – thật đáng ca ngợi thay! [...] Quả thật, quý quốc ở phương xa mang đức tính cao đẹp, trọng lễ nghĩa, quý người hiền, chúng tôi mong muốn kết tình huynh đệ cùng bản quốc. Lấy đạo nhân nghĩa và lòng yêu thương làm nền tảng, trước là khởi đầu bằng chính nghĩa, sau là cùng kết giao, phát triển tài nguyên và quý báu, vun đắp lợi ích cho đôi bên”[15].

 

Ảnh 3: Ngoại phiên Thông Thư外蕃通書13[16]
Ảnh 3: Ngoại phiên Thông Thư外蕃通書13[16]

Lời tuy khiêm nhường mà không hạ mình, cẩn trọng mà không rụt rè. Qua từng dòng chữ, Chúa Trịnh đã thể hiện tâm thế chủ động của một quốc gia tự chủ, biết tôn trọng đạo lý quốc tế, song cũng không quên khẳng định vị thế và cục diện chính trị mà mình đang nắm giữ. Ngài chủ trương lấy nghĩa kết tình, dùng nhân dưỡng lợi, khéo léo đặt nền cho mối bang giao bền vững, cùng hướng tới lợi ích lưỡng toàn. Chính nhờ những sách lược mềm dẻo nhưng thấu suốt ấy mà Phố Hiến chẳng mấy chốc trở thành thương cảng quốc tế sầm uất, nơi ghe thuyền các nước Tàu, Nhật, Tây Dương cùng tụ hội. Ấy là thời vận gặp người có tài, mà cũng là nhờ triều đình biết mượn thế nước để mở cửa buôn bán, giao thương không chỉ vì lợi lộc nhất thời mà là vì vận hội lâu dài của quốc gia Đại Việt.


DI SẢN TRUYỀN THỪA


Nếu xét về mỹ thuật và kiến trúc, thời Lê Trung Hưng quả là một thời kỳ rực rỡ, chẳng kém gì các triều đại huy hoàng trước đó. Dẫu xã hội khi ấy trải qua nhiều phen binh lửa, chính sự biến động khôn lường, nhưng trong lòng dân gian hồn nghệ thuật vẫn nở rộ như hoa sen vượt bùn, để lại nhiều công trình đình, chùa, đền, miếu và lăng mộ bằng gỗ, đồng, đá đều hết sức tinh xảo. Đơn cử như pho Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn thế kỷ XVI, nay lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với nghìn tay nghìn mắt không chỉ là biểu tượng từ bi mà còn là kết tụ của niềm tin, trí tuệ và kỹ nghệ siêu phàm của người nghệ nhân nhân dân.


Tại chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh), bộ tượng Phật Tam Thế và một phiên bản khác của Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn thuộc thế kỷ XVII vẫn còn vẹn nguyên dáng ngọc thần sắc, là dấu tích sống động của một nền mỹ thuật thăng hoa nơi cửa thiền. Cũng tại nơi ấy, toà Cửu Phẩm Liên Hoa được xem là bảo vật độc nhất vô nhị của Việt Nam, không chỉ vì cấu trúc kỳ công xoay được mà còn bởi ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Tòa tháp ấy được xem như một loại “cối kinh”, là sự kết hợp tư tưởng Mật tông và Tịnh Độ tông. Theo quan niệm Mật tông, mỗi vòng quay là một lần tụng niệm được nhân lên 3.542.400 lần. Người càng thành tâm tụng niệm, càng gần với đạo quả.


Ảnh 4: Toà Cửu Phẩm Liên Hoa - Nguồn: Báo Dân Trí.
Ảnh 4: Toà Cửu Phẩm Liên Hoa - Nguồn: Báo Dân Trí.

Kể đến tuyệt tác Phật môn lưu dấu từ thời Lê Trung Hưng, không thể quên ba pho tượng Tam Thế hiện thờ tại chùa Linh Ứng, Thuận Thành, Bắc Ninh. Những pho tượng này được tạo tác vào thế kỷ XVII, kế thừa những nét tinh tuý của nghệ thuật thời Trần, sự chuẩn mực thời Lê sơ và đường nét mềm mại thời Mạc. Song kỳ diệu hơn cả là hai pho tượng nhục thân của Thiền sư Vũ Khắc Minh và Thiền sư Vũ Khắc Trường tiêu biểu cho loại hình “tượng táng”, hay còn gọi là “thiền táng”. Thi thể hai vị được giữ nguyên vẹn qua nhiều thế kỷ, không hề có dấu vết đục rút, hút óc hay chạm khắc vào da thịt. Lớp ngoài chỉ được bó bằng sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất mối đùn, thuần là những vật liệu tưởng chừng mộc mạc mà lại hàm chứa trình độ kỹ nghệ nói chung và kỹ nghệ Phật giáo lúc bấy giờ đã đạt đến trình độ thượng thừa.

Ngày nay, khi dạo bước ven bờ Tây Hồ gió lộng, đi qua đường Thanh Niên rợp bóng cổ thụ, khách hành hương không khỏi dừng chân trước đền Quán Thánh, nguyên là một trong Thăng Long Tứ Trấn linh thiêng trấn giữ đất kinh kỳ. Nơi đây thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần trấn Bắc trừ tà hộ quốc, tượng đồng tôn thờ cao 3,96 mét, nặng gần bốn tấn, đường nét uy nghi mà thanh thoát. Tác phẩm ấy không chỉ là kết tinh của tín ngưỡng dân gian, mà còn là thành tựu điêu khắc lẫy lừng dưới thời Lê Trung Hưng góp phần xác lập bản sắc văn hóa Đại Việt.



Ảnh 5: Những bàn tay mọc ra từ thân rồng trên Long Sàn - Ảnh: Trần Hậu Yên Thế
Ảnh 5: Những bàn tay mọc ra từ thân rồng trên Long Sàn - Ảnh: Trần Hậu Yên Thế

Không chỉ dừng ở mặt tín ngưỡng, trong công cuộc trị quốc, các Chúa Trịnh còn đặc biệt chú trọng đến việc khơi lại nguồn cội, dựng nên những dấu ấn lưu truyền quốc sử. Tiêu biểu là việc cho chế tác Long Sàng đá đặt trước Nghi môn ngoại và Bái đường đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế. Long Sàng ấy không chỉ là vật thờ tự mà còn là bản khắc đá của lịch sử. Mặt sàng chạm hình rồng uốn lượn mềm mại, khí tượng đĩnh đạc. Đặc biệt, thân rồng được khắc thêm những cánh tay vươn ra từ mình, chi tiết này hết sức lạ thường, khiến hậu thế không khỏi khởi lòng suy tưởng. Thời ấy, đến màu áo còn phân biệt nghiêm ngặt theo phẩm trật xã hội, huống gì hình tượng rồng vốn là biểu tượng thiêng liêng chỉ dành cho thiên tử. Việc “thêm tay cho rồng” không thể chỉ là ngẫu hứng của người thợ, mà rất có thể là sự gửi gắm một thông điệp ngầm, một ẩn ngữ lịch sử được cài vào trong biểu tượng. Phải chăng đó là lời thì thầm từ quá khứ, phản ánh khát vọng cải cách hay là sự bứt phá âm thầm khỏi khuôn phép cũ để kiến tạo một bản sắc mới trong thời đại Lê – Trịnh?


Không chỉ dừng lại ở mỹ thuật cung đình và kiến trúc Phật giáo, dòng chảy nghệ thuật dân gian thời Lê Trung Hưng cũng phát triển rực rỡ, bắt nhịp theo đà tiến tới của một thời đại tuy biến động về chính sự, nhưng lại huy hoàng về văn hoá. Trong dân gian, những bàn tay thợ thủ công không chỉ miệt mài chạm trổ hoa văn mà còn đổ cả hồn vía và khí phách người Việt vào từng thớ gỗ, từng nét chạm. Cửa Võng đình Diềm nay thuộc Hoà Long, tỉnh Bắc Ninh được hoàn thành vào năm Chính Hoà thứ 13 (1692) được xem là cửa võng cổ có kích thước lớn nhất cả nước. Bên cạnh những đề tài quen thuộc như tứ linh Long – Lân – Quy – Phượng, người xưa còn lồng ghép vào đó những hình ảnh đời thường: cảnh chài lưới, cày cấy, dệt vải, như thể muốn đề cao phẩm hạnh và vai trò của người lao động, vốn là gốc rễ của quốc gia.


Tư tưởng thẩm mỹ thời đại Lê Trung Hưng vô cùng sâu sắc, khi nghệ thuật không tách rời đạo lý. Các họa tiết vừa trang trọng vừa gần gũi, phản ánh tinh thần “trọng hiền, đãi sĩ” vốn là cốt lõi trong nhân đạo truyền thống. Chẳng thế mà trên bia đá chùa Tĩnh Lự, tức “Tĩnh Lự thiền tự bi” thuộc Gia Bình, Bắc Ninh đã khắc lại đề tài “cầu hiền” như một tấm lòng gửi gắm với hậu thế. Tấm bia không chỉ đẹp về hình thức mà còn là lời nguyện ước của một thời đại khát khao người tài, biết lấy đức trị làm gốc, lấy nhân tâm làm thước đo thiên hạ.


Lại thêm, pho tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chính là viên minh châu trong kho tàng điêu khắc chân dung nước Việt. Tác phẩm ấy được giới chuyên môn đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng chân dung thế kỷ XVII. Đường nét khuôn mặt vừa nghiêm trang vừa phúc hậu, áo mũ trang phục được chạm khắc chuẩn mực, tinh tế đến từng nếp gấp, hạt ngọc đã góp phần soi chiếu lại dung nhan, y phục, khí chất của bậc mẫu nghi thiên hạ thời Lê Trung Hưng.

 

Khảo cứu trên dải đất Việt Nam hôm nay, người đời vẫn có thể tìm thấy vô vàn di tích quý báu còn lưu dấu từ thời Lê - Trịnh, đặc biệt tập trung tại khu vực trong và ven kinh thành Thăng Long xưa. Những tác phẩm ấy không chỉ là tinh hoa nghệ thuật mà còn là minh văn của lịch sử, nơi triều đình Lê - Trịnh đã khéo léo gửi gắm các vấn đề trọng yếu liên quan đến chủ quyền, biên cương và đạo lý dân tộc. Một trong những di vật nổi bật là bia Thuỷ Môn Đình hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn, nằm ngay nơi cửa ải địa đầu phía Bắc.

  Ảnh 6: Bia đá Thuỷ Môn Đình - Ảnh: Internet.
  Ảnh 6: Bia đá Thuỷ Môn Đình - Ảnh: Internet.

Tấm bia không chỉ quý về tuổi đời, tinh xảo về nghệ thuật thư khắc, mà còn đặc biệt mang giá trị như một văn bản xác lập chủ quyền quốc gia thời Lê Trung Hưng. Hai chữ  “Việt Nam” trong nội dung bia đã đánh dấu bước ngoặc lớn trong việc tìm hiểu quốc hiệu nước ta trong lịch sử. Trên cùng là bức đại tự “Thế Tồn Bi Ký” (bia bảo tồn truyền thống tộc họ). Hai bên khắc đôi câu đối: “An trấn Thuỷ Môn đình đình tiền thuỷ lục/ Toà thược Thiên Nam giới giới hạn thiên thư” (Gìn giữ đình Thuỷ Môn trước đình đường quanh suối lượn/ Khóa chặt ải Nam Quan ải phân định sách trời)[17].


Lời văn ngắn gọn mà ý tứ uyên nguyên, khẳng định thế trấn yết hầu, nơi “thượng du khởi nghĩa, hạ du trị bình”. Phía trước bia là minh văn chủ đề “Liên kết để tồn tại”, nêu bật tinh thần đoàn kết toàn dân. Đặc biệt, dòng khắc: “Việt Nam hầu triệt, Trấn Bắc ải quan” (cửa ngõ, yết hầu của nước Việt Nam là ải quan trấn giữ phương Bắc). Dẫu phương Bắc lúc ấy không dấy binh xâm phạm, thì “ải Bắc” vẫn được canh phòng nghiêm mật. Ấy là tư thế “thủ nhi bất bại”, là tinh thần “giữ nước trước khi nước nguy” của các bậc tiền nhân. Tư tưởng ấy cũng còn vọng lại trước chính môn vào đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng với 4 chữ “Bắc Môn Toả Thược” 鑰鎖門北. Từ Thăng Long đến Hoa Lư, từ miền xuôi đến miền thượng, tấm lòng người xưa đối với giang sơn xã tắc đều trọn đạo với từng tấc đất cha ông.


***

Dẫu phủ Chúa Trịnh nắm giữ thực quyền triều chính, điều khiển cục diện quốc gia hơn hai thế kỷ nhưng từ đời Chúa này sang đời Chúa khác vẫn một mực tuân thủ lễ nghĩa, tôn kính đế vương. Phò Vua Lê mà không tiếm vị, hành đạo pháp mà không tranh quyền, ấy chính là đại nghĩa của đạo trị nước: “Hành đạo bất hành quyền, cầm quyền bất tiếm vị”. Bằng cớ không chỉ ghi chép trong chính sử, mà còn in dấu trong từng lễ chế, nhạc chương và biểu tượng của triều đình. Vua Lê ngự trị ngôi Thiên tử nên lấy rồng làm linh vật, thờ phụng chim Phượng, ban hành sắc phong, tế lễ tổ tiên đặt tại Thái Miếu, dùng văn Hán trang trọng để khấn tạ trời đất, tỏ rõ đạo thống của bậc đế vương. Trong khi đó, Chúa Trịnh dù cầm quyền như thiên tử một phương nhưng chỉ chọn kỳ lân làm biểu tượng quyền uy, tôn linh điểu của dòng tộc là chim Vẹt. Tổ tiên họ Trịnh được thờ ở Cung Miếu, nghi lễ tế tự tuy có nhạc chương như Thái Miếu  nhưng dùng văn Nôm để tỏ rõ sự khác biệt ngôi thứ, không đem lòng sánh ngang thiên tử.


ĐẠO TRỊ NHIẾP CHÍNH


Trong lĩnh vực chính trị, sự phân định ấy càng rành mạch. Vua ban “sắc phong” là thiên mệnh, còn phủ Chúa ban “lệnh chỉ” như một cách thể chế hóa và thi hành mệnh Vua, tuyệt chẳng phải tiếm danh. Sử còn ghi rõ Chúa Trịnh Cương từ chối mặc áo sắc vàng như màu của thiên tử, mà chỉ vận màu tía để giữ lễ với Vua Lê. Năm 1721, khi được Chúa cho phép dùng áo sa, áo đoạn lúc vào chầu, Trịnh Quán, Nguyễn Công Hãng nhân đó xin Chúa khi tiếp kiến quần thần dùng y phục màu vàng. Chúa bèn triệu họ tới dụ rằng: “Ta từ khi lên nối cơ nghiệp nhà Chúa, giúp rập nhà Vua, thường vẫn giữ lòng tôn kính. Màu vàng là đồ mặc của thiên tử, để suy tôn Hoàng thượng ta, hợp với ý nghĩa của lễ. Từ nay những lúc coi việc chính sự, hội họp ở triều và những lúc bình thường yến tiệc, tiếp kiến quần thần, ta chỉ dùng y phục màu tía, ngõ hầu để phân biệt với các ông mà thôi”[18]. Ngay cả người ngoại quốc như giáo sĩ Alexandre de Rhodes từng sống ở Đàng Ngoài giai đoạn 1627 – 1630, khi ghi lại cảnh tượng trong lễ tịch điền, ông mô tả Chúa “ngự trong chiếc xe thấp thiếp vàng” đi sau cả bá quan văn võ. Đợi đến lúc đức Vua cày ruộng xong “ông là người đầu tiên tiến đến bái kính đức vua, sấp mình trên mặt đất… Đó là cách cung kính vĩ đại nhất và sự nhìn nhận long trọng nhất đối với nhà vua, một lần vào dịp đầu mỗi năm”[19].


Có thể nói, chính sự hưng thịnh thời đại Lê Trung Hưng là dưới bóng tay trị quốc của các đời Chúa Trịnh. Vậy mà giữa muôn vàn cơ hội để tiếm ngôi đoạt vị, nhà Chúa vẫn một mực thủ lễ, phò Vua mà không giành lấy ngai vàng. Nhân gian truyền lại lời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Giữ chùa, thờ Phật thì ăn oản”, dường như là một lời khuyên khéo hoặc giả là sự biện minh đầy thi vị cho hành xử “biết dừng đúng lúc” của dòng họ cầm quyền. Xét thế cuộc bấy giờ, khi vận nước đã yên, bờ cõi yên ổn, triều chính dần hồi quy củ thì phủ Chúa Trịnh vào buổi Lê Trung Hưng hẳn đã nắm đủ binh, tài, thế lực để thay ngôi nhà Lê. Dưới tay các Chúa, triều chính quy củ, quốc khố đầy đủ, uy binh lẫy lừng một cõi. Vậy mà suốt mấy đời, họ Trịnh vẫn chỉ xưng vương trong phủ, giữ vai trò nhiếp chính, không mang nghịch ý tiếm đoạt ngôi báu.


Từ lẽ ấy, nhân gian bắt đầu lưu truyền lời tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Giữ chùa, thờ Phật thì ăn oản” như một lời răn nhắc dành cho họ Trịnh giữ phận nhiếp chính, chớ vọng động ngôi tôn. Nếu quả thật lời ấy là thực, ắt nhà Chúa đã tin vào bậc đại sĩ, biết trọng lời người tài mà dừng nơi danh nghĩa, không bước lỡ vào con đường soán nghịch. Song giả như lời ấy chỉ là huyền thoại hậu thế thêu dệt để hợp thức hóa vai trò của phủ Chúa thì lại càng tỏ rõ, dù không ai buộc, không lời nào trói, nhà Chúa vẫn không soán đoạt ngai vàng - hẳn là bởi tâm họ còn biết giữ lấy đại nghĩa, hoặc chí ít cũng là một sự kiêng dè vi tế mang sắc thái chính trị khôn ngoan. Bởi vậy, nếu chịu lắng lòng soi xét ta mới thấu được đằng sau dáng vẻ uy nghi của một dòng họ cầm quyền là cả một hành trình bền bỉ phụng sự Tổ quốc trong vai “kẻ phò Vua”, là sự điều hành quốc chính một cách cẩn trọng mà vẫn giữ trọn đạo lý quân thần “cầm quyền bất tiếm vị”.

 

HẬU NGÔN


Lần giở từng trang sử cũ, lòng người đọc chẳng khác nào kẻ hành hương qua miền u tịch, từng bước đi giữa hoang sơ dấu tích mà lòng dấy lên những cảm hoài khó nói. Mỗi dòng chữ xưa như một lời thì thầm của tiền nhân vọng lại từ đáy thời gian, vừa xa mờ vừa hiển hiện. Đọc sử, không chỉ là tìm chuyện của người xưa mà là để soi lại chính mình giữa gương sáng cổ đạo, chẳng phải để luận công luận tội mà là để chạm tới cốt lõi của đạo trị nước, đạo xử thế và đạo làm người.


Từ phủ Chúa Thăng Long đến mỏ đồng Tụ Long, từ trường võ học đến ngòi bút bang giao, họ Trịnh đã để lại một nền trị quốc vừa cương vừa nhu, vừa có lễ trị vừa có trí dụng. Bên trong là văn trị sửa mình, bên ngoài là võ bị giữ nước. Không chiếm ngôi Vua nhưng làm được việc lớn vì thiên hạ. Không là đế vương nhưng được lòng sĩ phu, tướng lĩnh, thương dân, trọng đạo. Đó là tầm vóc của một triều đại sống trong bóng râm danh nghĩa mà toả rạng khí phách chính đạo. Hôm nay, ta đọc lại trang sử ấy với lòng thành, không chỉ để truy tầm quá vãng mà là để thấy rõ trong phép trị quốc, điều tối hậu không nằm ở danh xưng mà ở khí tiết và công quả. Bao đời Chúa Trịnh, từ buổi Trịnh Kiểm dựng nghiệp đến lúc Trịnh Căn chấn chỉnh triều cương, từ Trịnh Tùng dẹp loạn phục Lê cho đến Trịnh Cương giữ tiết quốc thể đều là những bậc minh chủ biết nén chí lớn vào khuôn lễ, lấy an dân làm trọng, lấy phò Vua làm danh, để lại cho muôn đời sau một mẫu mực trị quốc thâm sâu. Xin đừng vì vài phen u ám nơi cuối triều mà vội buông lời phán xét, làm lu mờ công tích to lớn của tiền nhân.


Trị quốc là chuyện dài hơi, giữ nước là đạo bền chí, lỗi một vài người chẳng thể xóa công của muôn người. Nhìn lại sử xưa, ta chẳng thiên lệch mà quy công trọn vẹn cho riêng nhà Chúa, bởi lẽ khi ấy, non sông còn có dòng tộc Vua Lê giữ ngôi quốc chủ, có di dư họ Mạc còn âm ỉ chí phục hưng, có các chúa Nguyễn nơi phương Nam dựng cơ nghiệp riêng một cõi, lại có bao trung thần nghĩa sĩ, danh nho trí giả dốc lòng vì xã tắc. Hãy để lòng mình làm cõi lặng mà soi lại sử xưa bằng cái nhìn khoan hòa, công chính, để thấy trong những gì còn lại của phủ Chúa Thăng Long không chỉ có bóng quyền lự mà còn có hơi thở của đạo lý, khí phách của một dân tộc không chịu rơi vào hỗn loạn dù trải qua muôn trùng biến cố. Nhà Chúa đã chọn con đường phò Vua không tiếm vị, hành quyền mà giữ lễ để rồi chính điều ấy khiến họ trở thành một điển phạm về “nhiếp chính mà không xưng bá”, về “cầm quyền mà không lạm quyền”. Vẻ vang ấy không cần ngai vàng sắc áo để làm nên, mà đủ khiến non sông khắc ghi muôn thuở.


Ngưỡng vọng người xưa, cúi đầu cảm tạ, nguyện hậu nhân biết trân quý di sản.

Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2025.

Trúc Lan Thiện Trí cẩn bút.


TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

[1] Bang Giao Đại Việt, Nguyễn Thế Long, NXB Văn hóa Thông tin, năm 2005, trang 112.

[2] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683”, tập II, NXB Giáo dục, năm 1998, trang 747 – 827. Trích dẫn của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử. Link: https://nghiencuulichsu.com/2015/12/10/tien-trinh-nha-thanh-cong-nhan-trieu-dai-quang-trung-bai-7/

[3] Cố Cung Bác Vật Viện [故宮博物院]: Cố Cung Bác Vật Viện Bát Thập Niên Đản Ký Quốc Tế Thanh Sử Học Thuật Nghiên Thảo Hội Luận Văn Tập [故宮博物院八十华诞暨国际清史学术研讨会论文集]. Bắc Kinh: Tử Cấm Thành xbx, 2006. Trần Duy Tân [陈维新], “Thanh Mạt Đối Nga Ngoại Giao Nghi Lễ Thể Chế Thất Bại Nguyên Nhân Thám Thảo” [清末对俄外交仪礼体制失败原因探讨] trang 194. Trích dẫn của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử. Link: https://nghiencuulichsu.com/2015/12/10/tien-trinh-nha-thanh-cong-nhan-trieu-dai-quang-trung-bai-7/

[4] Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quý Đôn, NXB Khoa học Xã hội, năm 1977, trang 339 - 340.

[5] Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Phan Huy Chú, NXB Khoa học Xã hội, tập I, năm 1992, trang 144.

[6] Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Phan Huy Chú, NXB Khoa học Xã hội, tập I, năm 1992, trang 146.

[7] Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Bộ giáo dục Trung tâm Học liệu, tập II, năm 1971, trang 59.

[8] Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Bộ giáo dục Trung tâm Học liệu, tập II, năm 1971, trang 61.

[9] Lôi Động Tinh Phi - Khảo Cứu Về Súng Đạn Người Việt, Đông Nguyễn và Kaovjets Ngujens, NXB Dân Trí, năm 2023, trang 72.

[10] Lôi Động Tinh Phi - Khảo Cứu Về Súng Đạn Người Việt, Đông Nguyễn và Kaovjets Ngujens, NXB Dân Trí, năm 2023, trang 72.

[11] Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn, NXB Khoa học Xã hội, năm 1977, trang 60.

[12] Lôi Động Tinh Phi - Khảo Cứu Về Súng Đạn Người Việt, Đông Nguyễn và Kaovjets Ngujens, NXB Dân Trí, năm 2023, trang 82.

[13] Tìm Về Nguồn Cội, Phan Huy Lê, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014, trang 597. Tư liệu gốc nằm trong sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi.

[14] Tìm Về Nguồn Cội, Phan Huy Lê, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014, trang 596.

[15] Đoạn văn này được chúng tôi tự phiên dịch. Để đảm bảo thông tin được chính xác hơn, mời quý bạn  tìm đọc nguyên văn trong Ngoại Phiên Thông Thư (Ảnh 3).

[16] Ngoại phiên Thông Thư外蕃通書13, trang số 18/24. Link tại đây.

[17] Ngàn Năm Văn Hiến Quốc Gia Việt Nam, Vũ Trọng Lâm chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2024, trang 464.

[18] Đại Việt Sử Kí Tục Biên, NXB Khoa học Xã hội, năm 1991, trang 81.

[19] Alexandre de Rhodes, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Uỷ ban đoàn kết Công giáo Tp. Hồ Chí Minh, năm 1994, trang 7-8.

Bình luận


bottom of page