top of page

DÒNG CHẢY VĂN HÓA VIỆT NHÌN TỪ CHIẾC ÁO NĂM THÂN

1 thg 4, 2025
9 phút đọc

Quí bạn thương mến,

Nay được dịp hạ bút viết đôi dòng cảm nghĩ về chiếc áo năm thân, tôi thấy lòng mình mang nhiều bối rối trước những di chỉ gởi gắm còn sót lại của tiền nhân. Tuổi đời non dại lại bơ vơ trên con đường tìm tòi văn hóa Việt vốn rộng lớn bao la, tôi chỉ biết gá mình vào kinh nghiệm của lớp người đi trước còn ghi chép lại trên trang sách, cộng với chuyện đời đang diễn ra trước mắt mà viết nên cảm nghĩ riêng mình. Nay được dịp bày tỏ tấm lòng, rất mong quí thầy quí bạn hữu gần xa thịnh tình chỉ biểu thêm cho một kẻ chuyên chở nhiều ưu tư về quê hương xứ sở nhưng còn lạc loài với nguồn cội ông cha.

Chiếu theo sách Huê Diện – Lược khảo về y trang phục sức tại Nam Kỳ của nhà nghiên cứu Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính có đoạn cho rằng: “Áo Ngũ thân là chỉ chung về thức áo may ráp từ năm khổ vải lại với nhau. Ngày xưa, do hai đặc điểm chính là khung dệt nhỏ nên may áo phải ráp từ nhiều khổ vải lại mới thành, thứ nữa quan niệm về áo phải ráp sống mới là áo dùng cho người còn sống; áo ráp sống là người đứng đắng. Vào khoảng đầu thế kỷ XX, loại áo này biến đổi thành áo song thân – hai thân, áo cắt trên một khổ vải, không còn ráp sống lưng nữa, dáng áo không rộng mà tầm trạc vừa người, tà ngắn hơn. Bên trong, khi cắt hò áo may thêm một lớp yếm lót bên dưới để dùng gài nút áo… Áo Ngũ thân, tức là áo được may từ năm cái thân áo, nút áo cài bên hông phải”[1].


Sự tỉ mỉ của chiếc áo không đơn thuần nhìn vào cái đẹp, cái sang qua ánh mắt mà còn được gởi gắm vào đó những triết lý nhân sinh thuận thiên địa, hợp nhân tâm. Có người quan niệm chiếc áo năm thân là biểu trưng cho ngũ thường Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín, tự đó khởi nguồn cho nhiều diễn giải khác nhau về ngữ nghĩa con chữ làm cho chiếc áo thêm phần giá trị. Cũng có người cho rằng “ngũ thân” là sự hội hiệp ơn đức nuôi dưỡng, chở che của “tứ thân phụ mẫu” gồm hai thân áo phía trước và sau, còn lại là thân áo bên trong tượng trưng cho người con – nhiều khi cũng chính là bản thân mình. Lối diễn giải liên quan đến ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ cũng được nhân gian lồng ghép vào chiếc áo năm thân, âu cũng là những quan niệm được nhiều đời hun đúc, chạm khắc thêm vào.


Kỳ thực mỗi người một nếp nghĩ, mỗi thời một lối suy tư làm cho chiếc áo thêm phần ý nghĩa, đậm chất triết lý. Riêng tôi không gò ép quan niệm thế nào cho phải trái thiệt ngay, chi bằng mở rộng lòng mình thâu nạp nhân sinh nhưng chớ huyễn hoặc, vẽ vời thêm thắt làm cho chiếc áo vốn dĩ mộc mạc trở nên cầu kỳ, giả dối. Dưới tầm mắt trông gần của kẻ ngoại đạo về y trang phục sức, tôi cho rằng điều làm nên sự hấp dẫn của chiếc áo năm thân nằm ở tính công dụng, thẩm mỹ và quan niệm nhân sinh chất chứa trong từng nếp nghĩ của mỗi người, mỗi ý thức thời đại vậy.


Trải qua một khoảng thời gian dài kể từ ngày Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát định chế trang phục và đưa Áo dài ngũ thân trở thành Quốc phục của cư dân Đại Việt ở Đàng Trong (1744 - 2024), đến nay chiếc áo năm thân dần xuất hiện thưa thớt trong tầm mắt nhân dân trong nước, có chăng là nơi diễn ra các nghi thức, nghi lễ, hội hè đình đám, cưới hỏi, tiệc tùng, chụp hình lưu niệm… Dầu vậy, đó cũng chính là phương cách khẳng định chiếc áo năm thân đã chuyển mình sang một sứ mạng lịch sử khác, thay vì tính công dụng được hiển lộ rõ ràng thì ngày nay chiếc áo được bày tỏ đặc biệt hơn về tính thẩm mỹ, vẻ đẹp thanh lịch, kín đáo. So với những bộ đồ tân thời ngày nay thì chiếc áo xưa kia không còn tiện lợi cho nhiều hoạt động vốn dĩ cần tính linh hoạt, hiện đại như cách cụ Đào Duy Anh (1904 - 1988) từng bình luận trong tác phẩm Việt Nam Văn Hóa Sử Cương cách nay gần trăm năm “Về y phục thì đàn ông trung lưu hầu hết theo lối tây, còn đàn bà con gái cũng đã bỏ lối xưa mà theo mốt “tân thời”. Kiểu áo Lơ-muya cùng giày dép cao gót dùng rất phổ thông. Quần áo mới ấy cốt phô lên vẻ đẹp tự nhiên của thân thể và khiến con người đi đứng có vẻ yểu điệu thướt tha”[2].


Người Việt Nam chúng ta vốn dĩ có đặc tính linh hoạt trong thói nghĩ nếp làm, hễ việc chi tiện dụng sẽ ưu tiên trước rồi mới nghĩ tới giá trị khác song hành. Do vậy sự chuyển mình sứ mạng lịch sử của chiếc áo dài năm thân là điều cần có trong tiến trình phát triển, thêm một điển hình hết sức thuyết phục để nói lên sự linh hoạt của người dân Việt Nam là nằm ở cung cách uống và pha trà: vừa có kiểu thức pha trà cung đình cầu kỳ nhiều bước mà lại có thuộc tính giản dị của dân gian “trà vô môn quan”, không khiên cưỡng, ép buộc. Người Việt Nam không tập trung vào nghệ thuật pha trà tài luyện như người Trung Hoa, cũng khác với tác phong nghi lễ của đạo trà Nhật Bản, chúng ta thường xem trà như một lẽ đối đáp mở đầu câu chuyện “chén trà là đầu câu chuyện”. Nhà nghiên cứu Trịnh Quang Dũng đã từng chia sẻ: “Nghệ thuật ẩm trà dân gian Việt rộng mở cho đại chúng, không hề có bất kì một quy định áp đặt nào. Chè dân gian nhắm tới mục đích phục vụ cuộc sống thường nhật, vậy nên: thực tế, thuận lợi, tiết kiệm, hiệu quả luôn là những định chuẩn bất thành văn trong văn hóa trà dân gian. Ngon nhưng phiền phức: xin kiếu! Ngon nhưng quá tốn kém: xin kiếu!”[3]. Chính tâm thái đó đã tạo nên nét đặc trưng riêng có của phong cách uống trà trên đất Việt – nét linh hoạt. Cũng vậy, chiếc áo năm thân cũng hoà mình cùng tâm thức Việt mà lựa chọn cách sống ấy. Vốn dĩ quan niệm ăn mặc của nhân dân nước mình hết sức linh hoạt, dù đẹp đến mấy cũng không làm phai lợt tinh thần thiết thực “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”. Triết lý gửi gắm trong chiếc áo giúp người ta thêm phần hoà nhã trong lối cư xử với bản thân, thân tộc và cộng đồng, chớ không thể giúp con người nuôi sống thân xác và vượt lên trên sự tiện nghi“vừa sang trọng kiêu sa lại vừa mộc mạc, dung dị”.


Cùng với chiếc áo năm thân đi qua những ly loạn trầm luân biến đổi của thời cuộc, ngày nay nó đã trở thành di sản truyền thừa từ lớp người đi trước gởi gắm cho thế hệ hậu bối chúng ta. Phóng tầm mắt vào sự tấn bộ của xã hội đương thời, chúng ta sẽ nhận ra hơn một thế kỷ nay các trào lưu tư tưởng, văn hóa, khoa học kỹ thuật của hoàn cầu mà đặc biệt là Tây phương đã mang lại nhiều tiện nghi vật chất cho đời sống người dân nước mình. Chúng ta đón nhận tất cả, ta tiếp cận những cái hay cái đẹp của ngoại quốc nhưng đã đủ sức đề kháng để có thể chọn lọc tinh hoa hay chưa? Sự ăn mặc xem qua hết sức đơn giản mà lại toát lên nhiều nét đặc trưng tâm hồn người Việt, chất chứa những tính cách riêng có của một dân tộc giàu tính linh hoạt, tế nhị, kín đáo. Do vậy cách ăn mặc cũng đóng góp phần nhiều vào công cuộc gìn giữ non sông từ thuở còn lặng bóng trong khói lửa chiến tranh đến khi thái bình thịnh trị, như ông Trần Ngọc Thêm có lần nhắc tới: “Mỗi dân tộc có cách ăn mặc và trang sức riêng, vì vậy, cái mặc trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc. Mọi âm mưu đồng hóa đều bắt đầu bằng việc đồng hóa cách ăn mặc. Từ nhà Hán đến các triều đại Tống, Minh, Thanh đều kiên trì tìm đủ mọi biện pháp buộc người Việt Nam ăn mặc theo kiểu phương Bắc, song họ luôn thất bại. Các vua nhà Lý cho dạy cung nữ tự dệt vải, không dùng vải vóc nhà Tống. Trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung viết: Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó trích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất toàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng tri hữu chủ”[4].



Bài viết trong sách "Áo Dài Truyền Thống - Hành Trình Trở Lại", xuất bản năm 2024
Bài viết trong sách "Áo Dài Truyền Thống - Hành Trình Trở Lại", xuất bản năm 2024

Một số người trong chúng ta đã không duy trì được tinh thần cao quí sẵn có của tiền nhân, ta xa rời gốc gác nguồn cội, để một khi ngoái đầu nhìn lại trở nên xa lạ với chính mình, xa lạ với chính nơi chốn mình sinh ra, xa lạ với giá trị ông bà mình trao truyền. Đã có lần tôi khoác trên mình chiếc áo năm thân về thăm chốn quê xưa nhà cũ nhân dịp Tết đến Xuân về, phần để thoả lòng ham thích, phần cũng mong thân bằng quyến thuộc trông thấy mà khen. Thiệt đáng buồn, không ít người dòm ngó trêu chọc với giọng điệu chê cười “trông mày giống thầy cúng” (thầy cúng theo nghĩa mê tín, bói toán dị đoan), từ chiếc áo Quốc phục cách vài trăm năm thành hình dạng chê bôi chỉ bởi chưa hiểu biết, thật đáng thương lòng! Nếu không cẩn trọng nhìn giữ và phát huy, đến một ngày nào đó chẳng may thế hệ con em nhìn vào chiếc áo năm thân mà lại nghĩ rằng đây là một phong cách mới lạ, tân thời hoặc do ngoại quốc mới nhập cảng thì quả thiệt không hay. Từ một chiếc áo, sẽ không đủ nói lên sự phai lợt hay mặn nồng của một quốc gia dành cho văn hóa xứ mình, nhưng chính những chi tiết dù là nhỏ nhất sẽ trở thành biểu hiện cho một hiện tượng bấp bênh phiêu lưu của dân tộc. Có lẽ, đây cũng là nỗi niềm chung của những tấm lòng mến quốc.


Trong làng văn hóa Việt, khái niệm “cải lương” cũng đã biến đổi từ một loại hình nghệ thuật sân khấu ăn khách một thời trở thành thứ tính từ giễu nhại, chê cười kẻ quê mùa. Liệu rằng sức sống của các giá trị văn hóa, trong đó có chiếc áo dài năm thân sẽ ra sao nếu chúng ta không đồng tâm hiệp lực cùng nhau học hiểu, học thương để biết trân quí các giá trị dân tộc này:“Từ khi phong hóa đổi mới, cách trang phục của ta đã thay đổi ít nhiều, nhất là ở nơi thành thị. Đàn ông lần lần ít đội nón mà dùng ô (dù), còn những người tân học thì phần nhiều bỏ lối quần áo cũ mà dùng quần áo kiểu tây, cho đến giầy mũ cũng theo kiểu tây cả. Nhưng đàn bà con gái tân tiến cũng không đội nón mà chỉ đi ô và mặc một kiểu quần áo gọi là tân thời, có vẻ yêu kiều diễm lệ hơn lối cũ”[5], lại thêm “cái văn hóa tây phương mà người ta muốn hoàn toàn du nhập đó, ta cũng nên nhận rõ giá trị của nó là thế nào, trước khi hăm hở hoan nghênh”[6]. Người xưa có câu “y phục xứng kỳ đức” là để dạy biểu cung cách ăn mặc cho phải phép, dầu “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” nhưng ăn vận cũng phải làm sao để tự mình nói lên đức hạnh thâm sâu nơi con người mình. Vài ba năm gần đây nhờ sự phát triển của truyền thông và giới mộ điệu trong nước dần quay lại nhìn ngắm các giá trị văn hóa, áo dài năm thân cũng được dịp hoà mình vào dòng chảy ấy mà phát triển mạnh mẽ trở lại, đây là một dấu hiệu hết sức đáng mừng. Chắc rằng, ta sẽ thấy rung tay khi chạm vào một di sản khi đã hiểu rõ đời sống của nó qua khúc quanh lịch sử chớ đừng nói tới việc lãng quên.


Quí bạn thương mến, đến đây tôi cũng đã cạn bút tâm tình và xin khép lại đôi dòng suy tư nhỏ bé. Lời tục có câuchuông không đánh không kêu, đèn không khêu chẳng tỏ; bóng nhựt nguyệt khôn soi chậu úp, phải hở răng cho thấu dạ tình nhơn”, dẫu biết mình cạn hiểu cạn nghe nhưng vẫn dày mặt viết nên đôi dòng tâm sự để quí thầy và bạn hữu gần xa thịnh tình chỉ biểu cho. Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 1 tháng 4 năm 2024

Trúc Lan Thiện Trí


 

 


[1] Huê Diện – Lược khảo về y trang phục sức tại Nam Kỳ, Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính, NXB Thuận Hóa, năm 2022, trang 122&123.

[2] Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh, NXB Quan Hải Tùng Thư, năm 1938, trang 241.

[3] Văn Minh Trà Việt, Trịnh Quang Dũng, NXB Phụ Nữ Việt Nam, năm 2023, trang 122.

[4] Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2023, trang 226

[5] Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh, NXB Quan Hải Tùng Thư, năm 1938, trang 122.

[6] Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh, NXB Quan Hải Tùng Thư, năm 1938, trang 239.

Bình luận


bottom of page